Blog

Joe's Food Blog
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Đông y cho rằng hoa thiên lý có vị ngọt, tính bình với công năng giải nhiệt, chống rôm sảy, còn là vị thuốc có công hiệu an thần, tư bổ tâm, giúp ngủ ngon giấc.

Đặc điểm của cây
Cũng như nhiều cây cỏ khác, hoa thiên lý còn gọi là dạ lý hương, dạ lài hương, Tonkin creeper hay Chinese violet… có tên khoa học Telosma cordata (Burm.f.) merr, thuộc họ thiên lý (Asclepiadoceae). Là loại cây có nguồn gốc từ các nước Đông Nam Á.
Thiên lý là loại cây nhỏ, thân dây mọc leo, chia làm nhiều nhánh. Lá đơn nguyên, mọc đối, gốc hình tim, thuôn, có màu xanh lục bóng. Ra hoa thành xim (chùm) dạng tán, ở nách lá màu vàng, xanh lục nhạt, cánh hoa hợp thành ống dài, trên chia thùy hẹp dài, quả hạt dài. Hoa thơm về đêm nên có tên dạ lý hương. Mùa hoa nở chủ yếu vào mùa hè nên trồng làm cảnh che bóng mát trong sân nhà và lấy hoa làm thực phẩm.
Đông y cho rằng hoa thiên lý có vị ngọt, tính bình với công năng giải nhiệt, chống rôm sảy, còn là vị thuốc có công hiệu an thần, tư bổ tâm, giúp ngủ ngon giấc. Thường dùng làm thức ăn mát, bổ, chữa mất ngủ, giải nhiệt đôc , trị đau măt do nhiêt va giun kim. Thông thường người ta vẫn dùng hoa thiên lý để nấu canh ăn, có công hiệu mát bổ, an thần, giúp dễ ngủ, ngon giấc, bớt mệt mỏi, chữa sốt nhẹ, lao lực…
Những món ăn - thuốc dùng hoa thiên lý:
Chữa mất ngủ: hoa thiên lý 30g, hoa nhài 10g, tâm sen 15g. Sắc lấy nước uống trong ngày, cần uống liền 3 - 5 ngày.
Để có giấc ngủ ngon: dùng hoa thiên lý nấu canh với thịt lợn nạc hoặc với cá diếc, ăn ngày một lần trong vài ngày liền.
Chữa mất ngủ thường xuyên: hoa thiên lý nấu canh cùng lá vông nem, mỗi vị chừng 30 - 50g, rửa sạch thái nhỏ nấu chung thành canh, nêm đủ mắm muối, bột nêm cần ăn trong 4 - 7 ngày.
Chữa giun kim: lấy lá hay hoa thiên lý chừng 40 - 50g nấu canh ăn hàng ngày, cần ăn từ 7 ngày trở lên sẽ khỏi.
Hoặc dùng hoa thiên lý 30g, rau sam 20g, lá đinh lăng 25g. Sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày, cần dùng trong 3 ngày liền.
Canh thiên lý thịt nạc
Chữa chứng lòi dom, sa dạ con: lấy 100g lá thiên lý non và lá bánh tẻ rửa sạch, giã nhỏ cho vào 5g muối ăn, thêm 30ml nước cất lọc qua gạc sạch. Rửa lòi dom hay tử cung sa bằng nước thuốc tím loãng 1%; sau lấy bông thấm sạch tẩm nước thiên lý đắp vào chỗ dom hay dạ con, băng giữ. Ngày 1 – 2 lần, cần làm như vậy trong 4 - 5 ngày sẽ thấy co dần lại.
Chữa đau mình, xương cốt: hàng ngày lấy hoa thiên lý xào với thịt bò ăn hoặc chấm với muối vừng ăn sẽ hiệu nghiệm.
Chữa đinh nhọt: lấy lá cây thiên lý khoảng 30 - 50g giã nát đắp vào nơi mụn nhọt ngày 1 lần, vài ngày sẽ khỏi.
Chữa tiểu buốt, tiểu dắt, cặn trắng: lấy rễ cây thiên lý 10 - 20g, sắc lấy nước uống chia 2 - 3 lần/ngày, chỉ 5 - 7 ngày sẽ đỡ hẳn.
Theo BS. Hoàng Xuân Đại
SKDS

Sen là một loài hoa đẹp. chẳng những nổi trội về hương, sen còn có công dụng tăng cường sức khỏe và làm đẹp.

Dùng sen để làm đẹp
Tất cả các bộ phận của cây sen đều được sử dụng để làm đẹp. Chẳng hạn, cánh sen được dùng trong việc ngâm bồn (spa trị liệu) rất hiệu quả để loại bỏ tế bào chết, tái tạo da, giúp làm da tươi trẻ lại. Đặc biệt, tinh dầu của sen trắng còn dùng để dưỡng da và massage, giúp lưu thông khí huyết.
Ngó sen cũng có khả năng tương tự, giúp sản sinh ra các chất đề kháng, tái tạo sức sống cho các tế bào. Sử dụng ngó sen làm nước uống sẽ giải được độc tố, giúp làn da đẹp hơn, các vết nám, tàn nhang và sẹo sẽ mờ dần.
Hương sen nhẹ nhàng và thanh khiết, vì thế thường được sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất nước hoa.
Tim sen có vị đắng, tính hàn, dùng để pha trà, chữa mất ngủ, giúp da hồng hào, láng mịn.
Lá sen có vị đắng, tính ôn, có tác dụng thăng dương, chỉ huyết. Dùng để trị cảm nắng, say nắng, xuất huyết do sốt cao và chứng cảm sốt mùa hè. Dịch chiết từ lá sen có thể điều trị hội chứng rối loạn lipid máu.
Lá sen tươi phơi khô, thái thật nhuyễn dùng để nấu cháo với đường cát trắng. Món cháo này có tác dụng thanh nhiệt, hạ huyết áp và giảm cholesterol. Đây là món ăn rất thích hợp khi thời tiết nắng nóng.
Lá sen còn có tác dụng giảm béo. Lựa lá sen (60g), hạt ý dĩ (10g), sơn tra tươi (10g), vỏ quất (còn gọi là trần bì 5g) đem nghiền chung thành bột, bỏ vào ấm, rót nước sôi vào hãm, ngày uống một thang thay trà trong 100 ngày để hành thủy, giảm béo.
Cách làm khác là dùng vỏ quất (10g), mạch nha (15g), lá sen thái sợi (15g), sơn tra (10g) cho nước vào sắc chung với mạch nha trong 30 phút, sau đó lọc lấy nước pha với đường trắng, uống nóng mỗi ngày một thang để bổ tỳ, tiêu ứ, giảm mỡ, giảm béo.
Củ sen chứa rất nhiều dinh dưỡng nhất là protein và vitamin C, giúp tuần hoàn máu. Củ sen nấu chín (hoặc ngâm giấm) có thể làm giảm nhiệt, giảm thâm tím, tăng cường chức năng tim mạch và dạ dày.
Ăn sen lợi cho sức khỏe
Sen là loài hoa giúp vừa làm đẹp vừa tăng cường sinh lực cho cơ thể
Các nguyên liệu của cây sen dễ chế biến thành những món ăn ngon, có lợi cho sức khỏe như món cơm gói lá sen các chất trong lá sen có thể làm giảm cholesterol một cách rõ rệt, điều trị hội chứng rối loạn lipid máu và giảm béo. Lá sen giúp huyết lưu thông, sức khỏe chóng hồi phục.
Món gỏi ngó sen giúp khử nhiệt nên ăn đều sẽ tăng cường được sức khỏe.
Món củ sen hầm thịt cũng rất có lợi cho sức khỏe vì trong củ sen chứa nhiều chất dinh dưỡng như các protein và vitamin C. Củ sen chưa nấu chín có thể làm giảm nhiệt bên trong mạch máu và làm giảm thâm tím.
Thực hiện như sau: củ sen nấu chín có thể giúp tăng cường chức năng tim và dạ dày, có tác dụng tốt cho giấc ngủ tốt. Củ sen gọt vỏ, cắt khúc ngâm trong nước có pha chanh để củ sen hết mùi bùn và không bị thâm. Hầm giò heo cho nhừ, tiếp tục cho củ sen vào hầm khoảng 10 phút, nêm nếm cho vừa ăn, cho thêm một ít đường cho dịu nước hầm. Dùng nóng.
Chè hạt sen là món ăn gần gũi nhất. Hạt sen là vị thuốc bổ dưỡng có tác dụng kích thích ăn ngon, hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng, dưỡng thần, tăng khí huyết cả 12 kinh mạch, giúp ngủ ngon, chóng phục hồi sức khỏe.
Trà tâm sen có công dụng thanh tâm, hạ huyết áp, giữ cho tinh khí được bền chặt và cầm máu. Nó thường được dùng để chữa các chứng bệnh như đầu choáng mắt hoa, hay hồi hộp đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, mất ngủ. Cách dùng đơn giản là lấy 3g tâm sen rửa sạch, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.
Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, tâm sen có tác dụng hạ huyết áp thông qua cơ chế làm giãn cơ trơn thành mạch máu và giảm trở lực huyết quản, phòng chống rối loạn nhịp tim, ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu, chống oxy hóa. Nó cũng cải thiện tình trạng thiếu máu cơ tim nhờ khả năng làm giãn thành mạch máu, giảm lượng tiêu thụ oxy của cơ tim và cải thiện lưu lượng tuần hoàn động mạch vành.
Lưu ý là vì tâm sen tính lạnh nên những người tỳ vị hư yếu, hay rối loạn tiêu hóa và đi lỏng mạn tính không được dùng.
Theo Hoàng Nguyễn
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Có thể dùng cây mít làm bài thuốc hay trị nhiều bệnh cho trẻ nhỏ rất an toàn như chữa tưa lưỡi, chữa tiểu cặn trắng, chữa hen suyễn...


Mít là loại cây to, cao khoảng 8-15m, có tên khoa học là artocarpus integrifolia linn, thuộc họ dâu tằm (moraceae). Cây mít được trồng phổ biến khắp nước ta, tại các vùng đồng bằng và tới độ cao 1.000m, rất gần gũi với người dân nông thôn. Mít có nhiều loại như: mít mật, miest dai, mít tố nữ (đặc sản miền Nam). Ngoài giá trị dinh dưỡng, nhiều bộ phận cây mít còn là vị thuốc hay.

Các bộ phận làm thuốc

Hầu như tất cả các bộ phận của cây mít đều được dùng làm thuốc. Lá mít được dùng làm thuốc lợi sữa, chữa ăn uống không tiêu, tiêu chảy và trị cao huyết áp. Ở Ấn Độ, người ta dùng lá mít chữa các bệnh ngoài da và rắn cắn. Gỗ mít mài lấy nước uống có tác dụng an thần, liều dùng 6 - 10g/ngày. Trong khi đó, rễ cây mít sắc uống có thể trị tiêu chảy.

Quả mít to, dài chừng 30 - 60cm, đường kính 18 - 30cm, ngoài vỏ có gai. Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại của quả mít hầu như ăn được. Múi mít chín ăn rất thơm ngon. Xơ mít có thể dùng muối chua như muối dưa (gọi là nhút). Các quả mít non còn dùng như một loại rau củ để nấu canh, kho cá, trộn gỏi…

Hạt mít luộc, rang, nướng hay thổi với cơm ăn. Hạt mít có giá trị dinh dưỡng như các loại hạt và củ khác, được nhân dân dùng chống đói trong những ngày giáp hạt. Hạt mít có thể phơi khô làm lương thực dự trữ, chứa tới 70% tinh bột, 5,2% protein, 0,62% lipid, 1,4% các chất khoáng. Hạt mít có tác dụng bổ trung ích khí gây trung tiện, thông tiểu tiện.

Có tài liệu còn cho rằng trong hạt mít còn chứa một chất ức chế men tiêu hóa đường ruột nên khi ăn nhiều dễ bị đầy bụng.

Múi mít chín vàng óng, ăn ngon ngọt, đặc biệt có hương thơm rất đặc trưng, được coi là thức ăn bổ dưỡng và có tác dụng long đờm. Về giá trị dinh dưỡng, trong thịt múi mít chín có protein 0,6 - 1,5% (tùy loại mít), glucid 11 - 14% (bao gồm nhiều đường đơn như fructose, glucose, cơ thể dễ hấp thụ), caroten, vitamin C, B2… và các chất khoáng như: sắt, canxi, phospho… Theo tài liệu của Tổ chức Lương nông thế giới (FAO), trong múi mít chứa nhiều chất đường, đạm, các loại vitamin A, B1, B2, C và nhiều khoáng chất cần thiết cho cơ thể.

Món ăn bổ dưỡng từ mít

Mít lên men rượu: múi mít chín 1kg, đường trắng 300g, men rượu (bánh men thuốc Bắc) 2 bánh. Cách làm: lựa múi mít vừa chín tới, gỡ bỏ hạt, phần múi đem trộn với 150g đường. Men rượu đem tán nhỏ, rây mịn. Cho mít vào bình thủy tinh rộng miệng, cứ một lượt mít rắc một lượt men cho đến hết mít. Số men còn lại rắc trên cùng, đậy kín nắp. Khoảng 4 - 5 ngày sau, mít lên men rượu bốc mùi thơm. Lấy 2 lít nước lọc hòa với 150g đường còn lại đổ vào, đậy kín nắp để lên men tiếp. Khoảng 9 - 10 ngày sau, thấy nước lên men rượu trong bình lắng trong là được. Chắt nước ra, lọc qua phễu có lót bông cho trong, đóng vào chai, nút thật chặt (vì lượng đường trong rượu còn lại vẫn tiếp tục lên men, dễ làm bật nút). Rượu mít lên men có màu vàng nhạt, có gas và dậy mùi thơm của hương mít. Rượu mít khá bổ, uống lâu say vì mít có tính giải rượu, dùng khai vị trong bữa ăn như bia hay rượu vang.

Mít nấu đường: mít chín 30 múi to, đường trắng 300g, chanh tươi 1 quả. Chọn mít dai vừa chín, múi to thịt dày, loại bỏ hạt, thái miếng vuông. Cho đường vào xoong cùng với 300ml nước, đun sôi, cho mít vào đảo đều. Rút bớt lửa chỉ để sôi lăn tăn, khi mít chín trong, nước đường hơi sánh lại là được. Để mít nguội, đem ướp lạnh. Lúc ăn, lấy mít vào cốc, vắt chanh vào nước đường còn lại, khuấy đều, tưới lên mít, ăn mát lạnh, dùng tráng miệng sau bữa ăn, còn giúp giải rượu bia.

Món mít non xào thịt: quả mít non gọt vỏ gai, thái lát, đem xào với thịt lợn (heo) nạc, nêm thêm gia vị, dùng ăn với cơm. Món này, theo Đông y có tác dụng bổ tỳ, hòa can, tăng và thông sữa, thích hợp cho phụ nữ sau sinh bị ốm yếu, ăn kém, ít sữa.

Những cách chữa bệnh từ cây mít

Lá mít dày, hình bầu dục, dài 7 - 15cm. Thường được dùng làm thuốc bằng lá tươi cụ thể như:

Dùng làm thuốc lợi sữa: sản phụ sau khi sinh nếu ít sữa, dùng lá mít tươi (30 - 40g/ngày) nấu nước uống giúp sữa tiết ra hoặc tăng tiết sữa. Cũng có thể dùng cụm hoa đực (dân gian thường gọi là dái mít), hay quả non sắc uống để tăng tiết sữa.

Chữa tưa lưỡi trẻ em: phơi lá mít vàng cho thật khô rồi đốt cháy thành than, trộn với mật ong, bôi vào chỗ tưa lưỡi 2 - 3 lần/ngày, tối 1 lần.

Chữa trẻ tiểu cặn trắng: lấy 20 - 30g lá già của cây mít mật, thái nhỏ, sao vàng, nấu nước uống.

Chữa hen suyễn: lấy lá mít, lá mía, than tre, cả 3 thứ có lượng bằng nhau sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.

Chữa mụn nhọt, lở loét: lấy lá mít tươi giã nát, đắp lên mụn nhọt đang sưng, sẽ làm giảm sưng đau. Hoặc dùng lá mít khô nấu cô đặc thành cao, bôi lên vết lở loét sẽ mau khỏi.

Vị thuốc từ nhựa mít: vỏ cây mít có nhiều nhựa, cũng thường được dùng làm thuốc chữa nhọt vỡ mủ. Hoặc có thể dùng nhựa mít trộn với giấm, bôi lên chỗ mụn nhọt sưng tấy.

Thuốc an thần, hạ áp (kể cả co quắp): gỗ mít tươi đem mài lên miếngđá nhám, hoặc chỗ nhám của trôn bát,cho thêm ít nước (nước sẽ vẩn đục dochất gỗ và nhựa mít), ngày uống từ 6 -10g, ngày uống 1 thang, chia 3 lần.

Làm an thần: dùng khoảng 20g gỗphơi khô (hay vỏ thân gỗ), chẻ nhỏ,sắc với 200ml nước còn 50ml, uống mộtlần trong ngày, chia 3 lần. Cần uống vàingày liền

Theo BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI
SK&ĐS

Theo Đông y, mồng tơi có vị chua ngọt, không độc, tính lạnh có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, nhuận tràng... Dùng mồng tơi chữa táo bón, đái dắt, kiết lỵ, làm đẹp da... vô cùng hiệu quả.


Loại rau tốt cho người tiểu đường
Rau mồng tơi giúp thải chất béo nên rất tốt cho người có mỡ và đường máu cao.
Trị núm vú sưng
Dùng rau mồng tơi giã nát đắp chữa vú sưng, nứt, giải độc.
Trị táo bón
Ăn rau mồng tơi hàng ngày giúp nhuận tràng rất tốt. Nếu bị táo bón có thể dùng bài thuốc sau: Lấy 500g mồng tơi cho mắm muối, tương, giấm nấu thành canh ăn cơm hằng ngày. Sử dụng vài ngày là đại tiện sẽ thông.
Trị đái dắt
Rau mồng tơi sắc nước uống trong ngày có thể trị được bệnh đái dắt.
Trị tiểu buốt
Hái lá mồng tơi từ sáng sớm lau sạch cho vào cối giã nát, vắt lấy nước cốt pha thêm một ít nước sôi để nguội cho vài hạt muối rồi uống. Bã dùng để đắp vào bụng dưới (chỗ bàng quang) chỉ sau vài lần là khỏi.
Tăng sữa cho sản phụ sau sinh
Phụ nữ sau khi sinh ít sữa, ăn rau mồng tơi sẽ nhiều sữa hơn. Trong rau mồng tơi có các vitamin A3, B3, chất saponin, chất nhầy và chất sắt nên tốt cho thai phụ… Món ăn nấu từ mùng tơi với gà ác, đậu đen ninh nhừ ăn nóng sẽ giúp sản phụ nhiều sữa, mau hồi phục sức khỏe lại có làn da hồng hào, tóc đen mượt.
Làm đẹp da
Lá mồng tơi còn có tác dụng dưỡng da. Ăn rau mồng tơi giúp lưu thông khí huyết, nhuận tràng giúp da dẻ mịn màng, tươi trẻ. Hoặc để dưỡng da, làm mịn nếp nhăn ở mặt, chống thô ráp có thể lấy vài lá mồng tơi non giã lấy nước cốt, cho vài hạt muối, thoa đều lên mặt vài lần trước khi đi ngủ.
Trị vết thương, trị đau nhức xương khớp
Nước cốt từ rau mùng tơi có thể làm mau lành vết bỏng, hầm mùng tơi với chân giò thêm chút rượu để ăn hàng ngày sẽ giúp trị đau nhức xương khớp.
Chữa yếu sinh lý: Rau mồng tơi, rau ngót, rau má, bộ lòng gà hay vịt, nấu canh ăn nóng sẽ giúp trị chứng yếu sinh lý ở nam giới hiệu quả.

Minh Trang
(Tổng hợp)

Không những giàu calo và polyfenol (chất có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim mạch), sôcôla còn có những ưu điểm khác là mang lại sự sảng khoái, dễ chịu và tăng cường trí nhớ.

Sôcôla được sử dụng như một phương thuốc từ thế kỷ 18 và được “kê đơn” ăn hàng ngày. Tuy nhiên, từ khoảng chục năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã quan tâm nhiều hơn đến những ưu điểm của sôcôla và họ chứng minh được rằng, sôcôla khá hiệu quả trong việc phòng bệnh tim mạch.
Theo nghiên cứu của Đức được tiến hành trong suốt 8 năm, với gần 20.000 người tham gia, nếu ăn một miếng sôcôla nhỏ (khoảng 7,4g) mỗi ngày thì nguy cơ tai biến mạch máu não sẽ giảm tới 48% và nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cũng giảm 27%. Ngoài ra, sôcôla cũng giúp giảm nguy cơ bị huyết áp cao. Kết quả này cũng được phát hiện ở nhóm người Kuna (Panama), do họ thường xuyên uống cacao nên tỷ lệ tử vong vì các bệnh ung thư và tim mạch cũng giảm.
Sôcôla có hơn 800 thành phần hóa học nhưng chỉ cần vài chục trong số đó cũng đủ để khẳng định ưu điểm của nó, đặc biệt là chất polyfenol. Các nhà khoa học đã ra sức nghiên cứu những tác dụng tích cực của nó trong việc phòng chống bệnh tim mạch, ung thư cũng như các bệnh lý liên quan đến thoái hóa thần kinh và khẳng định, phân tử polyfenol có tác dụng chống ôxy hóa nên rất có lợi trong việc phòng chống xơ vữa động mạch. Tuy nhiên, họ cũng khuyến cáo không nên dùng quá 200g mỗi ngày.
Nhóm nghiên cứu của Pháp cũng khẳng định, sôcôla là một trong những món ăn giàu chất polyfenol nhất, nhưng số lượng polyfenol sẽ khác nhau ở những loại sôcôla khác nhau: sôcôla đen nhiều polyfenol hơn sôcôla sữa. Đối với sôcôla trắng, tỷ lệ phân tử này gần như bằng không. Nghiên cứu còn chỉ ra rằng, những người thường xuyên ăn sôcôla ít bị suy nhược cơ thể, ít bị stress hơn so với những người thi thoảng mới ăn.
Theo Đức Ngọc
PNO/Le Figaro

Quả na vị ngọt, chua, tính ấm; có tác dụng hạ khí tiêu đờm. Quả xanh làm săn da, tiêu sưng. Hạt na có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh can, giải nhiệt, tiêu độc, sát trùng...


Cây na tùy thuộc vào từng địa phương còn gọi là mãng cầu, mãng cầu ta, màng cầu dai, tên khoa học Annona squamosa L.
Bộ phận dùng làm thuốc là rễ, lá, quả và hạt.
Đông y cho rằng quả na vị ngọt, chua, tính ấm; có tác dụng hạ khí tiêu đờm. Quả xanh làm săn da, tiêu sưng. Hạt na có vị đắng, hơi hôi, tính lạnh, có tác dụng thanh can, giải nhiệt, tiêu độc, sát trùng. Lá cũng có tác dụng kháng sinh tiêu viêm, sát trùng. Rễ cầm ỉa chảy. Có công dụng chữa kiết lỵ, tiết tinh, đái tháo, bệnh tiêu khát. Quả xanh dùng chữa lỵ và tiêu chảy. Quả na điếc dùng trị mụn nhọt, đắp lên vú bị sưng. Hạt thường được dùng diệt côn trùng, trừ chấy rận. Lá na dùng trị sốt rét cơn lâu ngày, mụn nhọt sưng tấy, ghẻ. Rễ và vỏ cây dùng trị ỉa chảy và trục giun.
Để tham khảo và áp dụng, dưới đây là những gợi ý những phương thuốc trị liệu từ cây na.
Đi lỵ ra nước không dứt: 10 quả na ương (chín nửa chừng) lấy thịt ra, còn vỏ và hạt cho vào hai bát nước, sắc còn một bát, ăn thịt quả và uống nước sắc.
Nhọt ở vú: Quả na điếc mài với dấm bôi nhiều lần.
Trị mụn nhọt sưng tấy: Lá na, lá bồ công anh, cùng giã đắp.
Sốt rét cơn lâu ngày: Vò một nắm lá (20-30g) giã nhỏ, chế thêm nước sôi vào vắt lấy một bát nước cốt, lọc qua vải, phơi sương, sáng hôm sau thêm tí rượu quấy uống trước lúc lên cơn hai giờ. Mỗi ngày uống một lần, uống liền 5-7 ngày.
Trị giun đũa chòi lên ợ ra nước trong: Dùng một nắm rễ na mọc về hướng Đông, rửa sạch, sao qua, sắc uống thì giun ra.
Theo BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI
SK&ĐS

Phối hợp sử dụng các nhóm thực phẩm hoặc thảo dược có tác dụng bổ can, thanh nhiệt giải độc, lương huyết, kháng viêm, tăng cường hành khí hoạt huyết có thể điều trị đúng căn nguyên gây mụn nhọt

Với quan niệm đơn giản mụn nhọt là do nóng trong người sinh ra và là bệnh lành tính, nên phần lớn người bị mụn nhọt thường tự chữa trị. Việc tự
Sài đất.  
ý sử dụng các loại thuốc đôi khi không mang lại hiệu quả mà càng làm mụn nhọt bị nhiễm nặng hơn.
Không mấy người biết đến hậu quả của mụn, khi bị biến chứng có thể dẫn đến nhiễm trùng máu, đe dọa tính mạng. Đối với phụ nữ, việc lo lắng thái quá khi bị mụn làm khí huyết uất kết, không thông, dẫn đến rối loạn kinh nguyệt và làm mụn nổi nhiều hơn trong giai đoạn kinh nguyệt. Nếu gan không đảm bảo được vai trò thải độc và chuyển hóa tốt thì hiện tượng tích độc càng tăng. Do đó để điều trị đúng căn nguyên gây mụn nhọt, cần phối hợp sử dụng các nhóm thực phẩm hoặc thảo dược có tác dụng bổ can, thanh nhiệt giải độc, lương huyết, kháng viêm và tăng cường hành khí hoạt huyết.
Thanh nhiệt giải độc, kháng viêm: Các loại thảo dược như bồ công anh, sài đất, kim ngân, liên kiều, bèo cái, thương nhĩ tử (ké đầu ngựa), cỏ mực, cam thảo đất là những vị thuốc chứa nhóm hoạt chất flavonoid có tác dụng chống viêm và có tính kháng sinh thực vật, dùng chữa mụn nhọt sưng đỏ gây đau nhức khó chịu, hoặc mụn ở giai đoạn mưng mủ và vỡ mủ.
- Cách dùng: Bồ công anh 15g, sài đất 10g, kim ngân hoa 5g, ké đầu ngựa 10g, cam thảo đất 2g, tất cả gộp lại sắc chung với 500ml nước, chia nhiều lần uống trong ngày hoặc bào chế ở dạng trà uống mỗi ngày.
Nếu mụn đang viêm và sưng tấy, dùng 100g sài đất tươi sắc với nước thêm ít đường chia hai lần uống trong ngày. Hoặc dùng 100g sài đất tươi giã nhỏ hòa với 200ml nước đun sôi để nguội, thêm ít muối lọc uống ngày hai lần.
- Bài thuốc sài đất, cỏ xước, ké đầu ngựa, cam thảo đất, mỗi vị 20g, sắc còn khoảng 200ml uống ngày 2-3 lần.
Nhuận gan mật: Các vị thuốc có tác dụng thông tiểu tiện, tăng cường hoạt động của các tế bào gan và gia tăng thải độc cho cơ thể, chữa mụn nhọt viêm nhiễm ngoài da. Sử dụng các loại trà actisô, trà nhân trần, trà nhuận gan hoặc các bài thuốc nhuận gan mật gồm nhân trần 12g, dành dành 12g, mã đề 8g, sắc uống ngày một lần có tác dụng tốt cho việc điều trị mụn.
Thanh nhiệt lương huyết (làm mát huyết): Các thảo dược hay được dùng như sinh địa, huyền sâm, cỏ mực, mạch môn, đơn bì, bạch thược có tác dụng làm mát huyết, nhuận huyết. Bài thuốc gồm cỏ mực 20g, sài đất 10g, hạ khô thảo 8g, mạch môn 10g, sinh địa 10g, sắc trong 600ml nước, đun cạn còn 300ml chia nhiều lần uống trong ngày.
Song song việc uống đôi khi cũng cần sử dụng một số thuốc để bôi hoặc đắp ngoài da nhưng phải tuân thủ yếu tố vệ sinh, vô trùng vì khi mụn nhọt đang giai đoạn có mủ nếu không giữ vệ sinh sạch sẽ có thể bị bội nhiễm.
- Dùng một ít bột quế hòa trong vài giọt chanh tươi chấm vào chỗ mụn, ngày 2-3 lần.
- Để mụn nhọt dễ rút mủ, dùng lá dâm bụt giã đắp, rễ cây hoa phấn giã đắp, hoặc dùng bài thuốc gồm lá khoai lang non 40g, muối ăn 3g, đậu xanh 10g, tất cả giã nhuyễn, trộn đều và đắp lên mụn, để khoảng một giờ rồi rửa mặt sạch với nước ấm.
Đông y có nhiều bài thuốc chữa mụn nhọt được bào chế ở dạng thành phẩm, có thể tham khảo và sử dụng theo chỉ định của thầy thuốc. Thuốc đông y tuy lành tính nhưng cần chú ý để tránh mua nhầm các loại dược liệu giả trên thị trường có thể gây độc hại như sài đất giả, hồng hoa giả, kim ngân giả...
Theo DS. LÊ KIM
SK&ĐS

Chất dịch từ lá lô hội chứa saponin có tác dụng chống lại vi khuẩn và nấm, giúp chống viêm nhiễm.

Phần lớn mọi người đều biết rằng vết bỏng được chia theo cấp độ từ 1-3 tùy theo mức độ nghiêm trọng. Dạng 1 là phổ biến còn dạng 3 thì hiếm có hơn. Dạng 3 thường là bỏng rất nghiêm trọng và khiến làn da bị biến dạng. Dạng 3 không đau bằng dạng 1,2 bởi độ sâu và mức độ tàn phá đối với dây thần kinh gửi tín hiệu đau về não bộ. Khi các dây thần kinh này bị phá hủy thì tín hiệu đau cũng không được truyền đi.

Có 7 loại bỏng khác nhau: bỏng lửa, bỏng nước, bỏng điện, bỏng tiếp xúc, bỏng bức xạ, bỏng do tia cực tím, bỏng hóa học.

Bỏng lửa xảy ra khi da tiếp xúc trực tiếp với lửa. Bỏng nước là do da tiếp xúc với hơi và nước nóng. Tiếp xúc với dây điện hở gây ra bỏng điện. Bỏng tiếp xúc là do da tiếp xúc với bề mặt nóng. Bỏng bức xạ là khi bạn gần tiếp xúc với hơi nóng hoặc lửa mức độ cao nhưng không phải trực tiếp. Phơi nắng quá nhiều có thể gây ra bỏng nắng và bỏng hóa chất là do da tiếp xúc trực tiếp với những loại hóa chất độc hại.
Bé có thể bị bỏng do tiếp xúc với lửa
Những liệu pháp điều trị bằng thảo dược sau đây có thể chữa được vết bỏng dạng 1, có thể là dạng 2 nếu vết bỏng không quá lớn. Nếu bạn bị bỏng dạng 3 thì cần có sự can thiệp của y tế ngay lập tức.

Cây lô hội thường được dùng để điều trị bỏng. Lô hội (còn gọi là nha đam) được sử dụng hàng nghìn năm qua để điều trị bỏng và vết thương. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nữ hoàng Cleopatra đã sử dụng lô hội như một loại kem giữ ẩm để chống lại dấu hiệu lão hóa dưới ánh nắng chói chang của Ai Cập cổ đại.

Lô hội chứa vitamin, khoáng chất, enzyme, axit amin và rất nhiều hợp chất giúp làm giảm đau và chống nhiễm trùng. Chất dịch từ lá lô hội chứa saponin có tác dụng chống lại vi khuẩn và nấm, giúp chống viêm nhiễm.

Loại cây khác cũng được sử dụng để chữa bỏng là nước từ tỏi và cây mã đề. Chỉ cần giã ra, trộn đều và đắp vào vết bỏng là được.

Hãy dùng lô hội để chữa bỏng nhẹ cho con
Rất nhiều người cho trực tiếp những tinh dầu sau lên những vết bỏng nhẹ: oải hương, cúc La Mã, long não, khuynh diệp, hành, bạc hà, hương thảo, ngải đắng. Bạn không nên để những tinh dầu này dính vào miệng vì có thể gây ngộ độc. Những tinh dầu này có thể cho thêm chút dầu thực vật vào để massage.

Những loại thảo dược có thể uống được là cúc dại và rau má. Cúc dại từ lâu đã được sử dụng để tăng hệ miễn dịch của cơ thể. Rau má giàu vitamin C giúp kích thích sự tổng hợp collagen, protein trong da để làm lành vùng da bị tổn thương.

Nếu con bị bỏng thì bạn nên cho nước lạnh vào vùng da bị bỏng càng sớm càng tốt và để trong vòng 5 phút. Đây là cách nhanh nhất và hữu hiệu nhất để làm dịu vết bỏng.

Nếu da bé đã bị phồng thì không nên chọc ra, và để ý để bé không động đến chỗ đó. Hãy để cho chỗ phồng tự động bị vỡ ra rồi rửa sạch với nước và bôi dầu chống nhiễm trùng.
Theo Eva

Rất đa dạng như dùng dấm, tỏi, chuối hay cây lô hội… người ta có thể chữa được rất nhiều căn bệnh khác nhau xuất hiện trong màu hè khi thời tiết nóng nực.

1. Cháy nắng
Giải pháp: Dấm
Dấm chứa acid acetic giống như thành phần có trong aspirin. Có tác dụng giảm đau do cháy nắng, ngứa ngáy và viêm nhiễm.
Ngâm một vài miếng vải mềm, khăn giấy trong dấm trắng sau đó xoa , đắp lên vùng da bị cháy. Để nguyên khăn trên da khi nào khô thì bỏ ra. Có thể làm lại một đến hai lần cho đến khi khỏi hẳn.
 
2. Phát ban nhiệt
Giải pháp: Baking Soda
Dùng baking soda (Natri bicacbonat) là loại hoá chất mà người ta quen gọi là xôđa để làm bánh nhưng lại rất tốt chữa bệnh phát ban nhiệt.
Cách làm như sau: cho một vài thìa bột xôđa vào bồn tắm sau đó ngâm mình trong đó, bột xôđa có tác dụng làm giảm bớt ngứa, giảm phát ban và tạo ra cảm giác khoan khoái dễ chịu. Cũng có thể bổ xung thêm bột yến mạch vào bồn tắm cùng với bột xôđa sẽ làm tăng hiệu quả trị bệnh.
Ngoài cách làm trên cũng có thể dùng bột xôđa bôi trực tiếp lên những vị trí phát ban để da hấp thụ độ ẩm, mồ hôi. Đây là cách làm cổ truyền nhiều dân tộc thường áp dụng bởi đơn giản, dễ làm và mang lại hiệu quả cao, tuy nhiên trước khi bôi bột xô đa cần vệ sinh , tắm rửa sạch sẽ.
 
3. Chữa phồng rộp da
Giải pháp: Dùng lô hội (Aloe Vera)
Trước tiên là vệ sinh sạch sẽ vị trí da bị phồng rộp bằng xà phòng và nước, sau đó dùng lá cây lô hội đắp vào và dùng băng băng lại.
Nên dùng lá mới, tươi, tuy nhiên nếu không có lá tươi có thể dùng sản phẩm đã chế biến có chứa thành phần của cây lô hội ví dụ như rượu lô hội hay bột lô hội sấy khô cũng có tác dụng tích cực.
 
4. Viêm nhiễm tai mùa hè
Giải pháp: Dùng tỏi
Những người hay bơi lội trong mùa hè thường dễ mắc bệnh viêm tai , nhất là nhiễm trùng ống tai do nước tích tụ trong tai, làm cho vi khuẩn hoặc nấm phát triển. Để đối phó với, người ta có thể dùng các loại thuốc giảm đau như aspirin hoặc acetaminophen.
Nhưng còn một cách khá đơn giản là dùng đệm nóng áp vào tai và thứ hai là dùng nước tỏi ép nhỏ vào tai . Nước tỏi ép có chứa chất kháng khuẩn rất tốt hoặc mua các loại dầu nhỏ tai được chế từ tỏi (dầu tỏi) cũng có tác dụng rất tốt .
 
5. Trị côn trùng cắn
Giải pháp: Dùng dầu bạc hà Peppermint
Thay vì gãi ngứa ngưòi ta có thể dùng dầu bạc hà (Peppermint) để trị và thực tế đã mang lại kết quả rất tốt. Cách làm, dùng vài ba giọt dầu bạc hà xoa trực tiếp lên vùng bị côn trùng cắn, nó sẽ soa dịu, làm mát và làm tăng quá trình lưu thông máu tới cho các vị trí chấn thương này.
Ngoài ra, có thể dùng kem đánh răng có chứa dầu bạc hà xoa lên chỗ côn trùng cắn cũng có tác dụng tương tự..
6. Vết cắt, vết xước
Giải pháp: Dùng mật ong
Thông thường khi bị thương, cắt vào tay hoặc các vết chầy xước chảy máu thì người ta có thể cầm máu và giữ cho vết thương sạch ngừa nhiễm trùng bằng cách dùung cồn rửa sau đó băng lại hay dùng thuốc kháng sinh.
Cách làm này đôi khi không phát huy tác dụng, thậm chí còn có thể phản ứng phụ nếu lạm dụng nhưng dùng mật ong sẽ có tác dụng rất tốt hơn. Lý do trong mật ong có chứa các thành phần kháng sinh rất tuyệt vời, thậm chí có thể khử trùng và làm lành vết thương nhanh gấp 3 so với dùng kháng sinh. Đơn giản bằng cách rửa sạch vết thương và dùng một chút mật ong xoa lên chỗ bị chấn thương sau đó băng lại.
 
7. Dị ứng sơn độc
Giải pháp: Dùng lá chuối hột
Dị ứng sơn độc, có thể từ cây sơn hoặc từ các loại cây cảnh là căn bệnh rất hiếm gặp và chỉ có một số người mắc phải, gây khó chịu, phồng rộp dưới dạng phản ứng. Sau khi tiếp xúc 15 phút nếu thấy hiện tượng bất thường thì dùng xà phòng không chứa chất tăng ẩm và nước ấm tắm.
Dùng một ít lá chuối hột (Lawn Weed Plantain) vò nát thành nước để tắm sau đó dùng lá cây chuối hột giã nát đắp lên vùng da bị dị ứng. Lý do lá cây chuối hột có chứa một hợp chất có tên là allantoin, có khả năng kháng khuẩn và chống viêm nhiễm rất hiệu quả.
 
8. Tóc cháy xém
Giải pháp: Dùng quả bơ
Vào mùa hè nếu tiếp xúc nhiều với nắng gió có thể làm cho tóc khô cháy, xoăn giòn và dễ gẫy. Để khắc phục tình trạng nên dùng quả bơ (Avocado).
Cách làm như sau: Lấy 1 trái bơ chín, bóc vỏ nghiền nát cùng với một thìa cà phê dầu ngũ cốc và một thì cà phê dầu sáp. Sau đó đắp vào đầu, dùng khăn choàng hoặc túi nhựa buộc chặt, sau 15-30 phút mở khăn, gội sạch. Cách làm này không chỉ giảm cháy tóc mà còn giúp tóc mượt mà trở lại bởi nó được cung cấp thêm dưỡng chất và độ ẩm.
Theo Khắc Nam
Tiền phong

Theo y học cổ truyền, nguyên nhân sâu xa của mụn nhọt là do chứng tích nhiệt trong cơ thể gây nên và phải điều trị đúng căn nguyên gây mụn nhọt mới cho hiệu quả.

Với quan niệm đơn giản mụn nhọt là do nóng trong người sinh ra và là bệnh lành tính, nên phần lớn người bị mụn nhọt thường tự chữa trị. Việc tự ý sử dụng các loại thuốc kháng sinh, kem bôi da, dưỡng da đôi khi không mang lại hiệu quả mà càng làm mụn nhọt bị nhiễm nặng hơn.
Không mấy người biết đến hậu quả của mụn, khi bị biến chứng có thể dẫn đến nhiễm trùng máu, đe dọa tính mạng. Đối với phụ nữ, việc lo lắng thái quá khi bị mụn làm khí huyết uất kết, không thông, dẫn đến rối loạn kinh nguyệt và làm mụn nổi nhiều hơn trong giai đoạn hành kinh. Nếu gan không đảm bảo được vai trò thải độc và chuyển hóa tốt thì hiện tượng tích độc càng tăng.
Do đó để điều trị đúng căn nguyên gây mụn nhọt, cần phối hợp sử dụng các nhóm thực phẩm hoặc thảo dược có tác dụng bổ can, thanh nhiệt giải độc, lương huyết, kháng viêm và tăng cường hành khí hoạt huyết.

Tuân thủ các điều sau đây để phòng chống mụn:
- Uống nước đầy đủ và nên uống nhiều nước để tăng cường thải độc cho da.
- Ăn uống đủ chất (không kiêng khem quá, không dùng các chất kích thích, thức ăn cay nóng, ngọt), nên ăn nhiều loại rau củ quả có nhiều chất xơ, sinh tố, đặc biệt là các chất chống oxy hóa tế bào, tránh để bị táo bón.
- Ngủ đủ giấc vì giấc ngủ ngon và sâu sẽ giúp da phục hồi cấu trúc nhanh.
- Rèn luyện thân thể, tăng sức đề kháng chống nhiễm khuẩn.
- Không lạm dụng thuốc kháng sinh hoặc tự ý sử dụng các loại mỹ phẩm khi chưa có sự hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa.
- Không gãi và nặn mụn nhọt, vì nặn làm tổn thương da và tạo cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập vào máu, gây nhiễm trùng máu.
1. Thanh nhiệt giải độc, kháng viêm: các loại thảo dược như bồ công anh, sài đất, kim ngân, liên kiều, bèo cái, thương nhĩ tử (ké đầu ngựa), cỏ mực, cam thảo đất là những vị thuốc chứa nhóm hoạt chất flavonoid có tác dụng chống viêm và có tính kháng sinh thực vật, dùng chữa mụn nhọt sưng đỏ gây đau nhức khó chịu, hoặc mụn ở giai đoạn mưng mủ và vỡ mủ.
- Dùng các vị thuốc trên sắc uống với liều lượng: bồ công anh 15g, sài đất 10g, kim ngân hoa 5g, ké đầu ngựa 10g, cam thảo đất 2g, tất cả gộp lại sắc chung với 500ml nước, chia nhiều lần uống trong ngày hoặc bào chế ở dạng trà uống mỗi ngày.
- Nếu mụn đang viêm và sưng tấy, dùng 100g sài đất tươi sắc với nước thêm ít đường chia hai lần uống trong ngày. Hoặc dùng 100g sài đất tươi giã nhỏ hòa với 200ml nước đun sôi để nguội, thêm ít muối lọc uống ngày hai lần.
- Bài thuốc sài đất, cỏ xước, ké đầu ngựa, cam thảo đất, mỗi vị 20g, sắc còn khoảng 200ml uống ngày 2-3 lần.
2. Nhuận gan mật: atisô, nhân trần, rau má, râu bắp, râu mèo, dành dành... Các vị thuốc này có tác dụng thông tiểu tiện, tăng cường hoạt động của các tế bào gan và gia tăng thải độc cho cơ thể, chữa mụn nhọt viêm nhiễm ngoài da. Sử dụng các loại trà atisô, trà nhân trần, trà nhuận gan hoặc các bài thuốc nhuận gan mật gồm nhân trần 12g, dành dành 12g, mã đề 8g, sắc uống ngày một lần có tác dụng tốt cho việc điều trị mụn.
3. Thanh nhiệt lương huyết (làm mát huyết): các thảo dược hay được dùng như sinh địa, huyền sâm, cỏ mực, mạch môn, đơn bì, bạch thược có tác dụng làm mát huyết, nhuận huyết. Dùng bài thuốc gồm cỏ mực 20g, sài đất 10g, hạ khô thảo 8g, mạch môn 10g, sinh địa 10g, sắc trong 600ml nước, đun cạn còn 300ml chia nhiều lần uống trong ngày.
4. Hành khí, hoạt huyết tiêu ứ (làm khí huyết lưu thông): hồng hoa, đào nhân, đan sâm, hương phụ, ích mẫu, ngải cứu, nghệ vàng... Trong trường hợp kinh nguyệt không đều, có thể sử dụng các bài thuốc như sau:
- Ích mẫu 12g, cỏ xước 8g, nghệ 8g, sắc với 300ml nước còn khoảng 150ml, uống ngày một lần.
- Hương phụ chế 10g, ích mẫu 10g, ngải cứu 8g, đan sâm 8g, sắc lấy 150ml uống ngày một lần.
Song song việc uống đôi khi cũng cần sử dụng một số thuốc để bôi hoặc đắp ngoài da nhưng phải tuân thủ yếu tố vệ sinh, vô trùng vì khi mụn nhọt đang giai đoạn có mủ nếu không giữ vệ sinh sạch sẽ có thể bị bội nhiễm.
- Dùng một ít bột quế hòa trong vài giọt chanh tươi chấm vào chỗ mụn, ngày 2-3 lần.
- Một muỗng nước ép ngò rí tươi trộn thêm một nhúm bột nghệ, rửa mặt sạch rồi chấm hỗn hợp này lên chỗ mụn bọc, mụn trứng cá mỗi tối trước khi đi ngủ, sáng dậy rửa sạch.
- Để mụn nhọt dễ rút mủ, dùng lá dâm bụt giã đắp, rễ cây hoa phấn giã đắp, hoặc dùng bài thuốc gồm lá khoai lang non 40g, muối ăn 3g, đậu xanh 10g, tất cả giã nhuyễn, trộn đều và đắp lên mụn, để khoảng một giờ rồi rửa mặt sạch với nước ấm.
Đông y có nhiều bài thuốc chữa mụn nhọt được bào chế ở dạng thành phẩm, có thể tham khảo và sử dụng theo chỉ định của thầy thuốc. Thuốc đông y tuy lành tính nhưng cần chú ý để tránh mua nhầm các loại dược liệu giả trên thị trường có thể gây độc hại như sài đất giả, hồng hoa giả, kim ngân giả...
Theo DS LÊ KIM PHỤNG
Tuổi trẻ

Ngay từ khi loài người biết dùng đến các loại nguyên liệu thiên nhiên để làm đẹp thì thảo dược, mật ong rừng, sữa dê đã chiếm một vị trí rất quan trọng.

Lá sen , phấn hoa, kén tằm vàng, nghệ thuốc… đã được dùng từ hàng trăm năm nay như một bí quyết làm trắng da, thậm chí ngày nay, kén tằm vàng vẫn tiếp tục là một trong những thành phần chính trong các loại kem dưỡng làm trắng da. Đây chính là các thành phần làm trắng da trong bài thuốc tắm trắng “Ướp mật tinh hoa thiên nhiên” bí truyền của Từ Hy Thái Hậu Trung Hoa xưa. Bí quyết của phương pháp này, không chỉ chính xác, tỉ mỉ trong khâu lựa chọn nguyên liệu mà cách thực hiện cũng hết sức công phu, khéo léo.
Mật ong, phải lấy loại ong rừng ở vùng rừng sâu, chưng cất tự nhiên và hoàn toàn tinh khiết. Mật ong hay còn gọi là bạch hoa cao hay bạch hoa tinh, thành phần chính của mật ong là một số đường Dextroza, Fructoza, axit hữu cơ quý hiếm và các men tiêu hóa, mật ong được sử dụng rất nhiều trong lĩnh vực y học cũng như chăm sóc sức khỏe con người. Về mặt thẩm mỹ, do tính chất làm ẩm và bôi trơn, mật ong được chế thành chất làm mềm da có tác dụng dưỡng da, làm mất nếp nhăn ở phụ nữ, giữ độ ẩm và tẩy đi những tế bào sừng hóa ở da. Mật ong phát huy tác dụng tối đa khi được kết hợp với phấn hoa và nghệ thuốc để làm trắng da.
Phấn hoa được lấy từ loài hoa trên vùng núi cao và thu hái vào đúng ngày, giờ duy nhất trong năm. Phấn hoa thượng hạng chứa nhiều chất dinh dưỡng quý, có tới 22 loại acid amin, 14 loại vitamin (B1, B2, B5, B6, C, D, E, H...), 18 loại men thiên nhiên và nhiều hoạt chất sinh học có lợi cho sức khỏe con người.
Kén tằm vàng: rất giàu protein và chứa nhiều vitamin có tác dụng làm trắng và dưỡng da từ tầng sâu. Nhân sâm tán nhỏ, trộn với các nguyên liệu trên theo một công thức đặc biệt có tác dụng loại bỏ những tế bào sừng hoá, thổi bay lượng melanin dư thừa, dưỡng da trắng mịn và đặc biệt là không tẩy da nên không bắt nắng như các phương pháp tắm trắng thông thường.
Bài thuốc Ướp mật tinh hoa thiên nhiên được thực hiện 9 bước trong 180 phút:
Bước 1: Làm sạch da trước khi tắm bằng tinh chất thảo dược. Trong 5 phút, các tế bào chết được loại bỏ, lỗ chân lông thông thoáng, da được làm mềm để chuẩn bị tiếp nhận tối đa các tinh chất dưỡng tiếp theo.
Bước 2: Tắm trắng bằng các loại tinh chất thảo dược quý, lúc này, các sắc tố trên bề mặt da bị loại bỏ, da được sản sinh ra tế bào mới.
Bước 3: Một lớp rễ cây dâu tằm tán nhỏ sẽ được đắp lên da khoảng 20 phút. Tinh chất từ cây dâu tằm đã được chứng minh là có tác dụng làm trắng da.
Bước 4: 20 phút đắm mình trong hương hoa thiên nhiên thanh khiết với tinh chất chiết xuất từ các loại hạt giàu dưỡng chất có tác dụng làm mềm và ẩm da. Thêm mật ong rừng và kén tằm vàng để các tinh chất trắng da thấm sâu vào lớp màng đáy của da, nuôi dưỡng da trắng hồng từ bên trong. Kén tằm vàng rất giàu vitamin và protein có tác dụng làm trắng da, bạn sẽ cảm thấy làn da biến chuyển rõ rệt.
Bước 5: Ướp mình trong tinh chất được chiết xuất từ lá sen non. Đây sẽ là 20 phút và bạn được thư giãn hoàn toàn. Hương thơm thanh tịnh và quý phái của của sen sẽ làm cơ thể được thả lỏng, mọi mệt mỏi tan biến thay vào đó là cảm giác hoàn toàn dễ chịu và hoà mình với thiên nhiên.
Bước 6: Tắm sữa dê cao cấp trong vòng 20 phút. Công đoạn tắm sữa dê này cũng khá cầu kỳ. Loại sữa dê từ thảo nguyên Mông Cổ được kỳ công mang về vào bảo quản ở chế độ đặc biệt. Các nhân viên thẩm mỹ sẽ xoa bóp theo mạch bạch huyết để đào thải độc tố, xoa và day, ấn theo các thớ cơ tròn để cơ thể săn chắc và da dẻ được thấm sâu dưỡng chất từ sữa dê.
Bước 7: Đắp mặt nạ hỗn hợp gồm tinh chất nghệ thuốc quý hiếm trộn với phấn hoa tươi nguyên chất 100%
Bước 8: Massage bằng nước ép từ lúa nếp non, giúp cân bằng độ ẩm, đặc trị làm trắng hồng và mịn màng cho làn da của bạn.
Bước 9: Tắm lại lần cuối bằng nước thơm thảo dược, xức các chất kết tinh của các loại thảo mộc và hoa lan làm mềm da.
 Sau 1 lần duy nhất, bạn sẽ sở hữu một làn da mịn màng, thơm mát, trắng đẹp tự nhiên và đặc biệt là không bắt nắng.
Theo 24h

Ngâm chân thảo dược và xoa bấm huyệt là phương pháp thư giãn, chữa bệnh đơn giản, rất hiệu quả, an toàn, dễ thực hiện và không hề tốn kém.

Từ lâu, người Trung Quốc đã biết sử dụng những thảo dược để tạo ra một loại nước ngâm chân có công dụng rất tốt với sức khỏe con người, thậm chí còn có thể chữa nhiều loại bệnh. Dần dà, phương pháp ngâm chân thảo dược này cũng bắt đầu xuất hiện và trở nên phổ biến tại Việt Nam, nhiều người coi đây là phương pháp thư giãn vừa thoải mái vừa tốt cho sức khỏe.
Dẫu vậy ít ai thực sự biết hết được công năng của phương pháp ngâm chân cũng như lợi ích mà những loại thảo dược này mang lại. Theo lời chị Thúy - chuyên viên massage chân tại BV. Y Học Dân Tộc TP.HCM thì loại nước thuốc dùng để ngâm chân được bào chế từ nhiều loại thảo mộc, trong đó có những loại thảo mộc dễ tìm như: ngải cứu, lá lốt, thiên niên kiện, quế khấu... Khi trải qua quá trình đun nấu, các hoạt chất có trong dược liệu sẽ hòa tan trong nước hoặc tỏa ra hơi, tác động trực tiếp lên da và niêm mạc, hoặc ngấm vào trong niêm mạc phát huy tác dụng tốt cho cơ thể như: điều hòa sự lưu thông máu và dịch thể; giảm đau mỏi cơ; êm dịu thần kinh; chống stress.
Để thực hiện quá trình ngâm chân bằng nước thuốc cũng rất đơn giản, chỉ cần nấu sôi các loại thảo dược, sau đó để nguội dần ở mức khoảng 30 - 40 độ C, đổ nước thảo dược đã nấu vào trong khay nhựa chuyên dụng có bộ điều chỉnh độ rung và ngâm chân trong đó khoảng 30 phút. Nước thuốc cùng với tần sóng rung của nước tác động trực tiếp lên chân, người ngâm sẽ cảm thấy cơ thể nhẹ nhàng, thư giãn, mệt mỏi dường như tan biến. Phương pháp này phù hợp với những người cao tuổi, người làm việc trong tư thế ít vận động (ngồi lâu, đứng nhiều), người bị bệnh viêm khớp dạng thấp, tăng huyết áp…
Tuy nhiên, để liệu pháp ngâm chân thảo dược phát huy hết tác dụng cần kết hợp với phương pháp massage bấm huyệt chân. Sau 30 phút ngâm chân với nước thuốc là những động tác xoa bóp, day ấn huyệt cục bộ vùng chân. Vì chân và bàn chân có nhiều huyệt, nhiều vùng phản xạ tương ứng với các nội tạng, cơ quan bên trong cơ thể, nên khi tác động bằng một lực phù hợp với cơ địa sẽ giúp cơ thể điều chỉnh những rối loạn chức năng của cơ quan hô hấp; tiêu hóa; tuần hoàn; thần kinh; cơ xương khớp; sinh dục; tiết niệu; giảm đau, êm dịu thần kinh, giảm stress; thư giãn phục hồi sức khỏe.
Thật ra, thực hiện phương pháp ngâm chân thảo dược và massage day bấm huyệt không khó. Nếu không có điều kiện đến chăm sóc tại các trung tâm, bạn cũng có thể tự pha chế nước ngâm chân bằng những loại thảo dược như: ngải cứu, lá lốt, ngô thù du, thiên niên kiện, quế khấu… Ngâm chân khoảng 30 phút, sau đó tự massage chân bằng cách dùng lòng bàn tay xát mạnh và xoa tròn khắp lòng bàn chân, chú ý tìm những điểm có cảm giác đau. Sau đó dùng đầu ngón tay ấn dò tìm chính xác những điểm đau, ấn vào những điểm đau này xoay tròn 10 vòng xuôi, 10 vòng ngược. Riêng các ngón chân cần có thêm động tác bóp các cạnh ngón rồi vê tròn xoay quanh toàn ngón chân. Ngâm chân thảo dược và xoa bấm huyệt là phương pháp thư giãn, chữa bệnh đơn giản, rất hiệu quả, an toàn, dễ thực hiện và không hề tốn kém.
Theo Lan Trần
SK&ĐS

Diếp cá có vị cay chua, lạnh có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng, sát trùng, được dùng chữa đau mắt đỏ, nhặm mắt, mắt đổ nhiều ghèn xanh.

Bệnh đau mắt đỏ hay viêm kết mạc là một bệnh rất phổ biến. Bệnh lây lan rất nhanh trong cộng đồng, nhất là khi người bệnh trong trường học, bệnh viện, công xưởng, lúc đó bệnh dễ phát thành dịch.
Theo dược sĩ Lê Kim Phụng, Đại học Y Dược TPHCM, để tăng tác dụng thanh nhiệt giải độc cho cơ thể, có thể dùng thêm nước sắc từ một số thảo dược thiên nhiên, hỗ trợ phòng ngừa trong trường hợp bệnh đau mắt đỏ.
Diếp cá 
Cúc hoa (còn gọi là kim cúc, hoàng cúc): Hoạt chất là adenine, cholin, vitamin A và tinh dầu. Cúc hoa có vị ngọt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tán phong minh mục. Cúc hoa được dùng 8 g-12 g, mỗi ngày sắc riêng hoặc chung với thảo quyết minh sao đen (cùng lượng) chữa đau mắt đỏ, quáng gà, chảy nhiều nước mắt, huyết áp cao, nhức đầu, đinh độc, mụn nhọt.
Chó đẻ răng cưa: Đông y gọi là diệp hạ châu, theo các tài liệu nghiên cứu, trong chó đẻ răng cưa có chứa axit phenolic và flavonoit có tác dụng diệt khuẩn và diệt nấm rất rõ rệt. Ngoài ra, còn chiết xuất được một tinh chất có tên là coderaxin được dùng điều chế thuốc nhỏ mắt và thuốc mỡ tra mắt, có tác dụng diệt một số vi khuẩn chủ yếu là các mầm bệnh đối với mắt, mỗi ngày sắc uống 8 g - 16 g cây khô hoặc 20 g-40 g cây tươi. Chó đẻ răng cưa còn được dùng làm thuốc chữa đau gan, đau thận, bệnh đường tiết niệu, lỵ, phụ nữ ứ huyết sau sinh.
Dành dành: Dùng quả chín (đông y gọi là chi tử) có chứa glycoside tên là gardenin, có tác dụng làm giảm lượng sắc tố mật trong máu và có tính kháng sinh đối với một số vi trùng. Theo y học cổ truyền, chi tử có vị đắng, tính lạnh, tác dụng thanh nhiệt tả hỏa, lương huyết, chỉ huyết, tiêu viêm.
Được dùng 6 g - 12 g hạt (bỏ vỏ quả) sắc uống chữa sốt cao khát nước, viêm gan vàng da, hỏa bốc lên đầu gây nhức đầu, mắt đỏ, tiểu tiện ít, mụn nhọt.
Mã đề: Dùng thân lá và hạt, hoạt chất là aucubin, ngoài ra còn có chất đắng, caroten, vitamin C, K, trong hạt còn chứa nhiều chất nhầy, adenine, cholin. Theo y học cổ truyền, mã đề có vị ngọt, tính mát, có tác dụng lợi thủy, thông lâm, thanh nhiệt giải độc, làm sáng mắt.
Được dùng mỗi ngày 16 g-20 g thân lá khô hoặc hạt khô sắc nước uống chữa đau mắt đỏ hoặc mắt nhặm có màng sưng tấy và viêm đỏ. Mã đề còn chữa tiểu tiện bế, sỏi thận, phù thũng, ho lâu ngày, viêm khí quản, các bệnh mụn nhọt.
Thảo quyết minh: Còn gọi là hạt muồng ngủ, dùng hạt già phơi khô sao đen. Trong hạt có chứa anthraglycosit, khi sao lên thì chất này bay đi, chất béo và protit trong hạt sẽ tạo thành một mùi thơm như mùi cà phê. Theo y học cổ truyền, thảo quyết minh có vị mặn, tính bình, vào 2 kinh can và thận, tác dụng thanh can, ích thận, khử phong, sáng mắt, nhuận tràng.
Được dùng để chữa bệnh mắt đỏ, mắt có màng mộng, chảy nhiều nước mắt, từ lâu dân gian quen dùng hạt thảo quyết minh để chữa bệnh đau mắt nên được đặt tên là quyết minh (quyết: mắt, minh: sáng), với liều 5 g-10 g/ngày, dạng thuốc sắc, thuốc bột hay viên, dùng riêng hoặc phối hợp chung với cúc hoa (cùng lượng) sắc uống.
Ngoài công dụng tốt cho mắt, thảo quyết minh còn trị cao huyết áp, nhức đầu, hoa mắt và lợi tiểu. Bài thuốc chữa đau mắt, nhức đầu: thảo quyết minh 15 g, long đởm thảo 3 g, hoàng bá 5 g, 300 ml nước, sắc nhỏ lửa cạn còn 150 ml, chia 3 lần uống trong ngày.
Diếp cá: Rau này còn có tên là dấp cá, rau dấp. Toàn cây có tinh dầu metylnonyxeton, flavonoit là quexetin và một ancaloit là cordalin.
Diếp cá có vị cay chua, lạnh có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng, sát trùng, được dùng chữa đau mắt đỏ, nhặm mắt, mắt đổ nhiều ghèn xanh, mỗi ngày sắc 6 g-12 g lá khô uống hoặc giã nát 20 g-40 g lá tươi lọc lấy nước uống. Ngoài công dụng trên, diếp cá còn được dùng chữa trĩ, viêm ruột, kiết lỵ, phụ nữ kinh nguyệt không đều.
Tăng đề kháng cho mắt bằng chế độ ăn

Để phòng bệnh đau mắt đỏ trong khi dịch đau mắt đỏ đang lây lan rất nhanh, dược sĩ Lê Kim Phụng khuyên mọi người nên bảo đảm tốt vệ sinh cá nhân.
Bên cạnh đó, cần có chế độ dinh dưỡng đầy đủ, nên ăn những loại thực phẩm chứa nhiều carotene, vitamin A tốt cho mắt như bí đỏ, cà rốt, cà chua, đu đủ, gấc, trứng, sữa, dầu gan cá.
Để tăng sức đề kháng, cơ thể cần vitamin C có trong cam, chanh, xơ ri, dâu tây... Ngoài ra cũng nên ăn các chất đạm và bổ sung các khoáng tố vi lượng như canxi, magie, kẽm...

Theo NLĐ

Để điều trị bệnh trĩ, y học cổ truyền có thuốc ngâm, thuốc đắp, thuốc xông, thuốc thang, trà dược, dược thiện... Trong đó phương pháp dùng trà dược tỏ ra có nhiều ưu điểm.

Bài 1: Hoa hòe, cỏ mực, lá đắng, lá đinh lăng, dau diếp cá, đương quy, bạch thược, bạch truật, cam thảo mỗi vị 200g (dược liệu ở dạng khô).

Cách chế: Các vị sao giòn, tán vụn, trộn đều bảo quản trong hộp kín tránh ẩm. Ngày dùng 35-40g hãm với nước sôi vào ấm chuyên, sau 10 phút là có thể dùng được. Uống dần trong ngày.

Công dụng: bổ trung ích khí, làm co búi trĩ, chống viêm chỉ huyết. Trong bài: đương quy, bạch truật, lá đắng bổ tỳ vị, bổ trung châu; hoa hòe, cỏ mực chỉ huyết và nhận tràng; rau diếp cá, cam thảo, lá đinh lăng tác dụng bổ trợ và điều hòa các vị thuốc. Nếu trĩ chưa chảy máu hoặc chảy máu ít nên dùng bài này từ 2-3 tháng. Đồng thời điều chỉnh chế độ ăn uống cho phù hợp, dùng những loại thức ăn nhiều chất xơ, chống táo bón, chống dị ứng.

Bài 2: Nhân trần, rau má, cỏ mần trầu, vỏ đậu xanh, ngũ gia bì, khương truật, cam thảo, ngân hoa mỗi vị 200g (dược liệu ở dạng khô).

Rau má bổ gan, lợi mật

Cách chế: Các vị sao giòn, tán vụn, trộn đều bảo quản trong hộp kín tránh ẩm. Ngày dùng 35-40g hãm với nước sôi vào ấm chuyên, sau 10 phút là có thể dùng được. Uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Nhuận gan mật, lợi tiêu hóa, chống viêm chỉ huyết, mát huyết. Bài này phù hợp với bệnh nhân trĩ có tiền sử kiết lỵ, chức năng gan suy giảm, vàng da vàng mắt, đau tức hông sườn, rối loạn tiêu hóa...

Nhân trần, rau má: bổ gan lợi mật; cỏ mần trầu, vỏ đậu xanh: đặc trị bệnh trĩ; ngân hoa: chống viêm tiêu độc; khương truật, ngũ gia bì: bổ tỳ; cam thảo có vị ngọt vừa bổ tỳ vừa điều hòa các vị trong bài.

Với bài này, người bệnh có thể dùng liên tục từ 2 tháng trở lên.

Bài 3: Hạ liên châu, ngân hoa, lá đắng, đương quy, bạch truật, huyết đằng, táo nhân, thủ ô, cam thảo, cỏ mực, thăng ma, sài hô, các vị lượng bằng nhau, mỗi lần chế biến nên lấy mỗi vị từ 150-200g.

Cách chế: riêng táo nhân (sao đen), các vị khác sao giòn tán vụn trộn đều bảo quản trong bình kín tránh ẩm. Ngày dùng 35-40g hãm với nước sôi vào ấm chuyên, sau 10 phút có thể dùng được. Uống dần trong ngày.

Công dụng: Thăng đề dương khí, đại bổ khí huyết, chống viêm tiêu độc, theo quan điểm Đông y: nguyên tắc điều trị bệnh trĩ bao gồm: thăng đề dương khí, chống viêm, giảm đau, chỉ huyết. Trong bài đương quy, bạch truật, thăng ma, sài hồ: thăng đề dương khí; huyết đắng, thủ ô, đương quy: bổ khí huyết.

Ngân hoa, hạ liên châu: chống viêm tiêu độc, táo nhân sao đen cùng với cam thảo, cỏ mực: dưỡng tâm an thần, chỉ huyết lương huyết. Bài này thích hợp với bệnh nhân trĩ đã bị bệnh lâu ngày, khí huyết lưỡng hư, thể trạng suy yếu, cần được nâng đỡ bồi bổ nguyên khí với tinh thần "Nhân cường tật nhược".

Bài 4: Ngũ gia bì 200g, củ đinh lăng 200g, bạch truật 200g, trần bì 100g, sơn tra 100g, phòng sâm 240g, sơn thù 200g, biển đậu 200g, cam thảo 200g, cỏ mần trầu 200g, ngân hoa 200g, thảo quả 100g.

Cách chế: Các vị sao giòn, tán vụn, trộn đều bảo quản trong hộp lín tránh ẩm. Ngày dùng 35-40g, hãm với nước sôi vào ấm chuyên, sau 10 phút có thể dùng được. Uống dần trong ngày.

Công dụng: bổ tỳ dương, cải thiện tiêu hóa, chống viêm, thăng đề.

Bài này phù hợp với bệnh nhân trĩ, thể trạng hư hàn, hay bị sôi bụng đi đại tiện lỏng, ăn uống chậm tiêu, chân tay lạnh, niêm mạc nhợt nhạt, dày da bụng.

Bạch truật, biển đậu, ngũ gia bì, củ đinh lăng, cam thảo: bổ tỳ, kiện tỳ, thăng dương; cỏ mần trầu, ngân hoa: chống viêm tiêu độc; phòng sâm và bạch truật: bổ khí, nâng đỡ tỳ thổ. Dùng phương pháp này các triệu chứng của trĩ giảm rõ rệt. Bệnh nhân dễ chịu ăn uống sinh hoạt được cải thiện.  

Theo Lương y Trịnh Văn Sỹ
SK&ĐS