Blog

Joe's Food Blog
Hiển thị các bài đăng có nhãn Emarketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Emarketing. Hiển thị tất cả bài đăng
tin nong sweet citrus email marketing  4 Bài học Kinh nghiệm trong tiếp thị bằng Email photo“Sự bất ổn của nền kinh tế khiến các doanh nghiệp tìm mọi cách để giữ chân khách hàng trong khi người tiêu dùng ngày càng thắt chặt hầu bao. Bối cảnh này thực sự là một thách thức lớn cho công tác tiếp thị – kích cầu của doanh nghiệp cả về chi phí lẫn thu hút sự quan tâm của cộng đồng. Vậy phải làm sao để doanh nghiệp và người tiêu dùng “thấu hiều” lẫn nhau trong giai đoạn này? Một sự thật đáng mừng là hầu hết mọi người sẵn sàng giúp đỡ những người cùng ngành và có xu hướng quay lại với những gì đã lựa chọn trước đó. Đó là biểu hiện của “lòng trung thành”.
Xây dựng quan hệ và sự trung thành của khách hàng là mục tiêu quan trọng hơn rất nhiều so với việc dùng “công cụ marketing” nào. Dù tình hình đang thuận lợi hay khó khăn thì đó cũng là mục tiêu ưu tiên số 1 của tất cả các doanh nghiệp.
 Đi qua một chặng đường, chúng ta rút ra 4 bài học quan trọng trong công tác tiếp thị điện tử để đưa ra hướng giải quyết thuyết phục và bắt đầu cho các cơ hội kinh doanh thành công trong năm 2012 và những năm tiếp theo.
 Bài học thứ nhất: Email Marketing vẫn là cách tốt nhất cho việc tạo dựng các quan hệ.
 Các phương tiện truyền thông phục vụ công tác tiếp thị thương hiệu gia tăng chóng mặt dẫn đến một nghi ngại “Có phải việc dùng email marketing vẫn còn phù hợp với thời đại?”. Thức tế chứng minh đây là điều rất chính xác – email marketing luôn phù hợp với mọi thời đại. Nguyên nhân:
 • Email tạo ra khoảng thời gian yên lặng, riêng tư với khách hàng. Người tiêu dùng là người được chọn danh sách Email mà họ muốn đăng ký. Khi khách hàng mở email của bạn, bạn có được sự quan tâm quý giá của họ trong giây phút. Trong thời đại internet hiện nay, khoảnh khắc ấy trở nên vô giá.
 • Khi nói về hiệu quả đầu tư, email là công cụ đạt hiệu quả cao nhất. Hiệp hội marketing trực tiếp gần đây cho rằng “Email thương mại mang lại lợi nhuận khổng lồ khoảng $43.62 thu về cho mỗi $1chi ra cho”. Đó là lý do mà Email cho phép bạn tạo ra các danh sách khách hàng tiềm năng, khách hàng trung thành chất lượng một cách hiệu quả với chi phí thấp.
 • Email vẫn còn là một dạng cơ bản của truyền thông kinh doanh chuyên nghiệp. Những người kinh doanh sử dụng thư điện tử để liên lạc với nhau, không phải qua Tweets hay là Facebook mà là Email là cá nhân. Đó là phong cách chuyên nghiệp và tránh thất lạc.
 Tin tức qua Email là những thông tin chất lượng mà bạn có thể lưu giữ lại trên trang web. Cả hai hệ thống B2B và B2C có thể nâng thương hiệu và lòng tin của họ bằng cách xuất bản và lưu trữ những kinh nghiệm của họ thông qua các bài viết qua Email và mời người khác đọc. Những người kinh doanh thích các cuộc nói chuyện. Hãy hỏi họ cho phép nhập địa chỉ Email của họ vào danh sách thảo luận và các mối quan hệ qua đó mà tiếp tục.
Bài học thứ hai: Email Marketing bổ sung cho tiếp thị truyền thông xã hội.
 Theo báo cáo gần đây của Nielsen, những người thích dùng Facebook và Twitter sử dụng email nhiều hơn là những người sử dụng bình thường. Điều đó có nghĩa là khách hàng của họ có nhiều sự lựa chọn- sử dụng email và vào các mạng xã hội. Nhưng không phải việc Tweet 10 lần một ngày và đưa lên những thông điệp ngẫu nhiên trên trang Facebook, vốn chỉ là một phần của phong trào mạng truyền thông xã hội.
 Nên nhớ rằng: Nội dung chất lượng là con át chủ bải của việc đưa thông tin lên thường xuyên. Email tin tức là trung tâm của truyền thông trực tuyến, đưa ra những lời khuyên thực tế và nhận thức có ý nghĩa mà tạo ra tiếng vang với khách hàng. Truyền thông xã hội được sử dụng để xác định xu hướng của khách hàng, ý tưởng các chuyên mục thông tin trong tương lai, đáp lại sự quan tâm của khách hàng, và tìm ra những người đăng ký mới.
Bài học thứ ba: Giao tiếp hai chiều là chìa khóa để sống sót
 Truyền thông kinh doanh tốt hơn cả việc chỉ bản về sản phẩm và dịch vụ của bạn. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc lắng nghe ý kiến khách hàng và mời họ trao đổi với thương hiệu của bạn cũng như giữ vững nhịp điệu của “cuộc trò chuyện”. Các doanh nghiệp thông minh thường xuyên khảo sát hoặc thăm dò ý kiến của khách hàng thông qua giao tiếp Email Marketing để điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình.
Những năm qua là giai đoạn của sự thay đổi: thay đổi môi trường kinh tế, thay đổi nhu cầu của khách hàng, thay đổi nhận thức. Chỉ những nhà doanh nghiệp biết lắng nghe khách hàng và thay đổi phù hợp mới có thể sống sót.
Bài học thứ tư: Giữ kết nối với khách hàng nhanh hơn …và hiệu quả
 Những doanh nghiệp sống sót sau cơn “biến động” đã tạo ra kết nối tuyệt vời với các khách hàng của họ. Họ học được cách giao tiếp trong cuộc mỗi cuộc trao đổi khi họ viết những email – tin tức. Điều ấy giúp khách hàng cảm nhận mình được coi như là một con người chứ không phải là một “tài khoản”.
Thậm chí, một số doanh nghiệp còn mời khách hàng, nhân viên, cộng tác kinh doanh, và thành viên cộng đồng để chia sẻ những câu chuyện cá nhân liên quan đến sản phẩm hay dịch vụ của họ. Cách tốt nhất là đưa vào một vấn đề trong các email tin tức. Điều này đôi khi sẽ tạo nên sự tập trung vào những chủ đề đang nhận được.
 Giá trị của bài học trong những năm qua có thể giúp cho tất cả chúng ta tạo ra các kết nối dài lâu với khách hàng trong những năm tiếp theo.
 Đó là 4 bài học quan trọng cũng như 4 lợi ích cơ bản nhất của Email marketing. Việc ứng dụng công cụ này không có gì khó nếu bạn lựa chọn được một nhà cung cấp uy tín và chuyên nghiệp. Điều quan trọng là bạn cần có nội dung có ích cho khách hàng. Đây cũng không phải là rào cản quá lớn nếu được tạo ra từ kinh nghiệm của doanh nghiệp hoặc cá nhân người sử dụng.
 Để tìm hiểu thêm các thông tin hữu ích khác về Email Marketing hay các hình thức Internet Marketing khác, hãy ghé thăm và tham gia danh sách email của chúng tôi tại địa chỉ www.unikmedia.com.vn

Tác giả: Phương Đài – Theo Nguyễn Hiển
Nguồn: inboundcafe
tin nong sweet citrus email marketing  Welcome email   Bài giới thiệu 30s trong email ... photoVới một salesman, một trong những yếu tố quyết định thành bại là bài giới thiệu 30 giây. Còn với một chiến dịch email marketing, trọng trách này được đặt vào cái gọi là welcome email. Ngoài việc cần phải tạo sự khác biệt, bạn cần đặc biệt lưu ý những điều sau:
1. Thời điểm: càng sớm càng tốt
 Về mặt kỹ thuật, email sẽ tự động gửi đi sau khi khách hàng đăng ký trên website. Rất hiếm khi xảy ra tình trạng “im hơi lặng tiếng”, nhưng sự chậm trễ là điều thường xuyên xảy ra. Hãy tưởng tượng, bạn nhận được thông báo “Vui lòng kiểm tra email để xác nhận thông tin”, bạn vào inbox, nhấn refresh/receive và chờ, 3 phút rồi 5 phút trôi qua (bạn bắt đầu sốt ruột), thêm 5 phút nữa và bạn quyết định không thèm để ý đến nó nữa. Hãy thường xuyên phối hợp với bộ phận kỹ thuật kiểm tra tình trạng của server để kịch bản trên mãi chỉ là tưởng tượng!
2. Thiết kế: phù hợp
 Welcome email vừa là khởi đầu cho chiến dịch email marketing vừa là sự tiếp nối về nội dung từ website của bạn. Do đó, đừng lạm dụng sức sáng tạo ở đây, hãy cứ giữ những màu sắc, hình ảnh, font chữ đặc trưng của website. Trong hầu hết các trường hợp, “trước sau như một” luôn là lựa chọn đúng đắn.
3. Nội dung (1): ngắn gọn
 Không ai thích một kẻ vừa gặp mặt mà đã nói nhiều! Tôi chắc là bạn có rất nhiều thông tin, bài viết vừa “kool”, vừa “hot” mà lại “cực đỉnh” muốn chia sẻ với khách hàng, nhưng hãy để dành cho những email tiếp theo. Kiểm tra welcome email của bạn với các phần mềm để chắc rằng không phải dùng thanh cuộn mới có thể đọc hết nó.
4. Nội dung (2): khác biệt
 Không ai thích một kẻ toàn nói lại những điều người khác đã nói! Hãy cố gắng tạo nên sự khác biệt trong mỗi thông điệp gởi đi nhé.
5. Nội dung (3): kêu gọi hành động (call to action)
 Đừng nghĩ welcome email chỉ là lời chào mà bỏ qua việc đề nghị khách hàng làm một điều gì đó. Mời họ xem những bài viết hay nhất, tải bản dùng thử, cung cấp đầy đủ thông tin (và nhận quà),… Hãy nghĩ thêm nhiều cách để giữ chân khách hàng trong luồng thông tin của bạn. Cá đã vào ao, đừng để nó bơi đi chỗ khác!
Sưu tầm
“Email Marketing (Viết tắt là EM – Đúng vậy, đã dính đến “em” thì đời ta phức tạp hơn nhiều!) là một hình thức tiếp thị trực tiếp (Direct marketing) rất ổn định về “vị trí” và “phong độ”. Nhưng để “nhập môn” bạn cần vượt qua 5 điều thường bị hiểu sai về EM.”
I. EM rất rẻ lại dễ làm, nói chung là… chuyện nhỏ ấy mà!
 Đó là điều đa phần các Marketies thường nghĩ về EM và sau đây là 4 lý do bạn không nên khinh thường EM:
 1) EM hay bất kỳ hình thức marketing nào khác – sẽ gắn liền với thương hiệu của bạn.
 Việc xuất hiện trước khách hàng một cách sơ sài, không chuyên nghiệp cũng giống như…mặc đồ rách đi chơi với người yêu. Spam là nỗi ám ảnh của những người dùng EM, không chỉ nằm ở những thống kê khô khan, mà còn nằm trong tâm lý khách hàng. Không có gì xòa nhòa được một ấn tượng xấu với thương hiệu/tên công ty bạn đâu. Bạn nghĩ sao nếu nghe một khách hàng tiềm năng nói rằng: “Công ty A đó hả? Nó toàn spam mail không à – gửi thông tin khuyến mãi vớ vẩn”. Hãy tiết kiệm uy tín của ra
 2) Khách hàng đôi khi rất…tàn nhẫn
 Ngoài việc cá nhân người đó có ấn tượng xấu, họ sẽ còn trao đổi và “cảnh báo” về bạn với những người quen. Trung bình nếu một khách hàng có có ấn tượng không tốt về một thương hiệu thì họ sẽ “cảnh báo” đến … 13 người quen. Ngoài ra, họ còn có một giải pháp “tàn nhẫn” hơn là click vào nút “Report as spam” của các nhà cung cấp mail (Yahoo mail, Gmail…). Nếu email của bạn bị thông báo (report) quá nhiều thì đuôi mail của bạn sẽ vĩnh viễn bị cấm (Ví dụ @toiyeubaxatoi.com bị cấm thì tất cả những email như dung@toiyeubaxatoi.com , son@toiyeubaxatoi.com đều bị liệt vào spam). Nói nôm na là “thân bại danh liệt”.
 3) Trên đời không bao giờ có cái gì ngon bổ rẻ.
 Có thể một lúc nào đó bạn sẽ được cả 3 nhưng đó chỉ là ăn may mà thôi, hình dưới đã giúp TYM cân bằng tâm lý khi giải quyết công việc rất nhiều, chỉ cần biết mình đang ở đỉnh tam giác nào thì mọi việc sẽ ổn thỏa:
 Nếu muốn có một chiến dịch EM thật sự tốt bạn cần phải có những cộng sự giỏi như copywriter, coder, designer… và những người cứng nghề thì luôn có cái giá của họ.
 II. Tỷ lệ mở “khủng”.
 Theo khảo sát thông thường từ những người …chưa dùng EM thì mọi người thường mong đợi tỷ lệ mở khoảng từ …50-80% email gửi thành công. Tỷ lệ này cũng giống như mong muốn có 80/100 người xem TV xem quảng cáo của mình vậy.
 Khi gửi email cho khách hàng, các Marketie thường hình dung một tương lai màu hồng rằng khách hàng sẽ click vào email của bạn, rú lên sung sướng vì nội dung và thiết kế quá tuyệt – rồi vồ lấy điện thoại gọi ngay cho bạn để đặt hàng/mua sản phẩm. Đó thường là những “ước ao, khát khao” sau khi click nút “send”. Buồn thay, hầu hết những khách hàng tiềm năng của bạn không mở email – vì nhiều lý do: quá bận, không nhận được email (vào spam hay lý do khác) và không có nhu cầu.
 Thống kê cho thấy, trung bình một tiêu đề email nhận được khoảng 2-5s liếc qua, và người đọc sẽ quyết định mở email hay để email đó vĩnh viễn không được mở. Tỷ lệ trung bình về mở email tại thị trường Việt Nam là 10 – 15% trên danh sách khách hàng mới (chưa từng nhận email của công ty), và 20 – 35% trên danh sách khách hàng cũ (được chăm sóc thường xuyên). Tỷ lệ mở email cao nhất là đối với ngành giáo dục – hay các email có liên quan đến khuyến mãi.
 Hãy tự nhủ: “Bạn đang gửi một email KHÔNG được yêu cầu đến một người KHÔNG biết tôi, KHÔNG có thời gian và KHÔNG có nhu cầu – vào thời gian KHÔNG thích hợp”. Liệu email của bạn có thể “sống sót” qua 5 chữ “KHÔNG” này?
 III. Hiển thị “đẹp lung linh”.
Có một phần các Marketies hình dung EM như một hình thức e-Print-ads – nên họ sẽ cố gắng thiết kế sao cho thật sặc sỡ và ấn tượng. Tốt thôi – nhưng đó là chỉ khi email của bạn được hiển thị đúng y với những gì nó được thiết kế bạn đầu, điều thường KHÔNG xảy ra (vâng, lại một chữ KHÔNG nữa).
 Đối với các ESP (Nhà cung cấp email – như Yahoo, Google) và các email client (chương trình nhận và gửi email – như Outlook, Thunderbird …) thì hình ảnh sẽ bị mặc định chặn. Đó là lý do thường một email bạn mở trong Gmail sẽ không có hình – cho đến khi bạn click vào nút “show images”. Ngoài ra email của bạn có thể hiển thị rất “trời ơi” trên mỗi trình duyệt web khác nhau (Firefox, Internet Explorer, Chrome…) làm người đọc thấy khó chịu và đóng lại ngay.
 IV. Truyền tải được rất nhiều thông tin.
 Nếu tỷ lệ mở là khá thấp – vậy tại sao không cho những người mở “càng nhiều càng tốt” thông tin khi có thể. Vâng, về suy nghĩ này thì có 1 câu dành cho bạn: “Informations kill information” – “Quá nhiều thông tin sẽ giết chết thông tin”. Có bao nhiêu người sẽ bỏ thời gian đọc hết 1 email dài dàng dặc? Chắc chắn là không nhiều, và tỷ lệ trung bình là 80% những người mở email CHỈ đọc 3 dòng đầu và sẽ quyết định có tiếp tục đọc email hay tắt đi. Bạn có 3 dòng để gây ấn tượng với một người đấy – không hơn, không kém.
 Một thuật ngữ khác gọi là ATS – Above The Scroll (cũng được áp dụng trong website). Ý nghĩa là 75% người đọc sẽ KHÔNG BAO GIỜ kéo con trỏ chuột xuống màn hình thứ 2. Vì vậy, thường bạn chỉ có 3 dòng và 1 màn hình để gây ấn tượng tốt với khách hàng – trước khi muốn họ tiếp tục đọc email của mình.
 V. Chỉ cần chạy EM thì doanh số (Sales) sẽ tăng vù vù.
 Cứ xem như email của bạn đã hoàn toàn thuyết phục được người đọc về sản phẩm/ dịch vụ thế nhưng con đường đến việc mua hàng còn rất nhiều điểm chặn: nhân viên trực điện thoại, nhân viên tư vấn tại văn phòng, thời tiết, thông tin chính xác địa điểm và số điện thoại liên hệ, đối thủ cạnh tranh…
 VD 1: Nhân viên tư vấn trung tâm thể dục California Wow đã nhảy dựng lên khi TYM quyết định tháng sau mới đăng kí tập: “Trời, anh còn chờ đến tháng sau để tăng thêm vài kí mỡ nữa rồi mới đến tập hả, anh còn muốn gì nữa, tụi em đã offer cho anh gói rẻ nhất rồi!” kèm thêm rất nhiều câu nói tạo cho TYM cảm giác mình là thằng ngốc, nghèo mà còn bày đặt tơ tưởng đến trung tâm này. Sau này dù EM của California Wow có hấp dẫn thế nào nữa thì TYM cũng sẽ không ngó đến hoặc chí ít không bao giờ đến chi nhánh Park Son Hùng Vương.
 VD 2: Nhận được EM của một trường dạy thiết kế, TYM hăm hở gọi lên hỏi thêm thông tin thì “Tụi em có nhiều khóa học lắm, anh cứ lên đây xem đi chứ đâu thể nói hết qua điện thoại được!”. TYM không hiểu nổi nếu vậy sao không đưa chi tiết khóa học vào mail hoặc web cho tiện? Không muốn mất thời gian, TYM cho chị ấy email của mình và chờ mòn mỏi cũng không thấy thư nàng. Kết quả là 2 tuần sau TYM khăn gói lên trường ADS Art & Design để học, dù trường đó chả có gởi EM nào đến. ADS chắc phải cám ơn trường này đã gợi lên nhu cầu học lại về thiết kế căn bản cho mọi người, nhờ vậy chí ít là thêm được một học viên.
 Cách hiểu sai này là trầm trọng nhất vì Marketies sẽ chăm đầu vào Sales mà đánh giá kết quả cũng như đặt mục tiêu cho chiến dịch EM tiếp theo của mình. Vấn đề không được giải quyết và cứ thế đâm ra ghét EM, cho rằng EM là một kênh không hiệu quả.
 Đi qua 5 điều trên, chắc hẳn bạn đọc đang rất thắc mắc vậy hiểu sao mới đúng và làm thế nào cho không trật? Rõ ràng, cái gì liên quan đến “em”đều rất phức tạp và khó điều khiển. Để chinh phục được EM, người dùng phải lựa chọn cho mình một “bí kíp”.
 Sử dụng VinaContact để có cái nhìn toàn thể của EM. Hệ thống khách hàng sử dụng VinaContact để chinh phục EM đã vượt qua giới hạn khu vực, trở thành “bí kíp” tin dùng chiến lược marketing của rất nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam.
Sưu tầm

tin nong sweet citrus email marketing  7 bước không thể bỏ qua khi xây dựng chiến lược email marketing photo

"Email marketing ngày càng quan trọng và chứng minh được sự cần thiết của nó trong hoạt động kinh doanh. Là một doanh nghiệp nhỏ, đừng bỏ qua kênh này bởi sự hiệu quả, tiết kiệm chi phí của nó sẽ luôn làm bạn hài lòng."


Với sự nhốn nháo xung quanh  marketing trên social media hiện nay, bạn nên nghĩ rằng sắp tới có thể là ngày của email marketing. Sự thật rằng chúng ta ngày càng nhận được nhiều email hơn trước kia. Có nghĩa rằng sẽ ngày càng khó hơn để thu hút sự chú ý của một ai đó nhìn vào Hộp thư đến của họ. Tuy nhiên, email marketing vẫn sẽ có một chỗ đứng vững chắc trong chiến lược marketing online của bất cứ doanh nghiệp nào.

Có một số điều cơ bản mà bất cứ chiến dịch email marketing nào cũng cần có. Bạn cũng nên nhìn nhận email marketing như một campaign. Khi bạn khôn khéo tiếp cận thị trường với những thông điệp cá nhân, email marketing sẽ hoạt động tốt nhất khi những thông điệp đó được kết nối.

1.     Nhìn chuyên  nghiệp.
Chắc chắn việc bạn sử dụng địa chỉ email nào sẽ phản ánh thương hiệu công ty. Gửi một email từ Hotmal hoặc Gmail sẽ không có độ tin cậy như sử dụng một tên miền được cá nhân hóa như dạng: 123@companyname.com

2.     Đừng sử dụng Outlook.com
Nhiều doanh nghiệp nhỏ cố gắng tiết kiệm tiền và rút gọn quá trình email marketing bằng cách gửi email số lượng lớn sử dụng BCC trong Outlook.

Rắc rối rất dễ xảy ra. Nhiều email gửi đi đã chọn nhầm ở chế độ CC hoặc copy nguyên toàn bộ list email vào phần “To”. Điều này khiến tất cả mọi người tròng danh sách của bạn nhìn thấy email của những người khác. Một số người có thể cảm thấy sự riêng tư của mình bị xâm phạm khi người khác có thể nhìn thấy địa chỉ email cá nhân của mình.

3.     Sử dụng các nền tảng email marketing
Sử dụng một nền tảng email marketing  là cách tốt nhất cho con đường phát triển lâu dài . Nó sẽ không ảnh  hưởng nhiều đến ngân sách marketing của bạn. Có một số dịch vụ email marketing phổ biến mà tiêu biểu là MailChimp.

email marketing  Email Marketing trong những ngày giảm giá photo

Nếu bạn đang sử dụng email marketing để quảng bá sản phẩm hay dịch vụ của mình, chắc chắn bạn đã từng gửi email giảm giá, các chương trình khuyến mại cho các subscriber thân thiết.”

MarketingCharts công bố nghiên cứu Epsilon, chỉ ra rằng dòng tiêu đề có chữ “coupon” (phiếu giảm giá) đã mang lại tỷ lệ mở cao nhất trong mùa lễ hội 2011. Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Liên đoàn Bán lẻ quốc gia cũng đã cho thấy rằng đối với  36% khách hàng , yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định mua hàng ở đâu là chương trình khuyến mại.
Tuy nhiên, viết được một email khuyến mại tốt là cả một nghệ thuật. Để giúp các email marketer thành thạo công việc viết lách này, hãy làm theo những hướng dẫn dưới đây để đạt được kết quả tốt nhất.

Làm cách nào thu hút khách hàng: Dòng tiêu đề
email marketing  Email Marketing trong những ngày giảm giá photo
Nghiên cứu Epsilon đã đề cập tới việc sử dụng từ “coupon” trong tiêu đề là một bước đi thông minh trong mùa lễ hội. Nhưng thế giới marketing không chỉ dừng lại ở “coupon”. Trong một nghiên cứu của mình, Smart Insights đã cho hay, dòng tiêu đề (không chỉ trong những kì nghỉ) trong lĩnh vực Thương mại điện tử, sử dụng từ “coupon” không tạo hiệu quả như mong đợi, thay vào đó, sử dụng “sale,” “save” và “% off” lại mang lại nhiều thành công hơn cả.

Tóm lại, bạn cần thử nghiệm xem từ nào hiệu quả với khách hàng của mình. Dưới đây là dòng tiêu đề mang lại nhiều cảm hứng của các thương hiệu lớn:
Làm thế nào để khách hàng đặt hàng: Thiết kế
Cách bạn trình bày một email là một nhân tố quyết định liệu mọi người có mua nó hay không. Nghe thì có vẻ tầm thường, nhưng các chi tiết nhỏ như màu sắc của link cũng có thể tạo ra một sự khác biệt rất lớn.
Dưới đây là một ví dụ về các thủ thuật thiết kế khác nhau đem lại kết quả khác nhau:
Quà tặng của shop Maryann đến khách hàng được gửi cùng một tờ rơi gồm các chương trình khuyến mãi mới nhất của cửa hàng. Các tờ rơi này nhận được tỷ lệ click through cao; hơn 20% người mở email sẽ click vào link tới trang web.
email marketing  Email Marketing trong những ngày giảm giá photoBurger Boy lại có cách tiếp cận khác hẳn. Họ cho gửi phiếu giảm giá được nhúng vào link cùng các thông tin khác. Họ cũng nhận được tỷ lệ click through khá cao, tuy nhiên, các phiếu giảm giá chỉ nhận được ¼ số click. 75% người đọc click vào các link khác.
email marketing  Email Marketing trong những ngày giảm giá photo
Chiến lược của Burger Boy đã sai? Cũng không hẳn. Mọi người vẫn click vào link để xem menu và các thông tin khác. Chủ cửa hàng Ken Simmons cho hay “Phiếu giảm giá đã thu hút mọi người mở email. Và một khi họ mở email, ngay lập tức họ sẽ nhìn thấy bức ảnh món ăn ngon của hãng, click vào menu và đặt hàng. Tôi sẽ hài lòng hơn nếu họ đừng sử dụng phiếu giảm giá nữa, thay vào đó hãy đặt những bữa ăn bình thường với một cái giá bình thường.”

Liệu coupon của bạn có được click hay không cũng là một câu hỏi gây băn khoăn cho nhiều marketer. Visual Website Optimizer có nghiên cứu một doanh nghiệp và nhận thấy conversion rate đã tăng 64% chỉ bằng cách tạo một cái nút rõ ràng để visitor click vào.

Làm cách nào thuyết phục khách hàng: Nội dung
Để coupon và các nút thực hiện vai trò của mình của mình, bạn phải tập trung vào các yếu tố quan trọng sau:
- Thiết lập ngày hết hạn khuyến mại. Ngày hết hạn tạo ra sự cấp thiết, khiến cho các subscriber có cảm giác họ phải hành động ngay. Bằng cách giới hạn số lượng khuyến mại, bạn sẽ trở nên linh hoạt hơn với các loại khuyến mại mà mình đang cung cấp.

- Hạn chế các dòng chữ nhỏ. Thử nghĩ mà xem, bạn sẽ bực mình làm sao khi sử dụng coupon mà phải đọc tất cả các loại trừ và hạn chế trong các dòng chữ nhỏ. Hay tồi tệ hơn, bạn không thể dùng được coupon bởi vì vi phạm điều gì đó. Nếu các marketer muốn giới hạn sử dụng coupon, hãy làm nó thật ngắn gọn và ngọt ngào.

- Hãy tặng subscriber những gì họ thích thú. Bạn có cảm thấy vui mừng không khi được giảm 1$ trong một lần mua hàng? Có thể bạn thích thú, nhưng giảm 10% sẽ khiến bạn vui vẻ hơn và khát khao sở hữu sản phẩm đó hơn. Nếu giá trị của sản phẩm hay dịch vụ là 10$, thì lượng tiền được giảm là như nhau. Tuy nhiên, giảm 10% nghe có vẻ giá trị hơn, bởi 10 thì luôn tuyệt hơn 1. Hãy nghĩ về điều này khi bạn ra quyết định khuyến mãi bao nhiêu.

Làm cách nào duy trì được sự quan tâm: Sự thường xuyên
Trong báo cáo của Unbounce, 54% người nhận email sẽ unsubcribe mình ra khỏi danh sách bởi vì họ nhận được quá nhiều email. Một câu hỏi được đặt ra là, bao nhiêu là quá nhiều?

Không có câu trả lời chính xác cho câu hỏi này. Một vài công ty đã thành công trong việc thực hiện các email “ deal hàng ngày”, trong khi các số khác lại thất bại. Và câu trả lời thực sự là: nhiều hay không còn phụ thuộc vào cách bạn thể hiện với subscriber của mình.

Bạn có một vài lựa chọn:
- Quyết đinh chọn 1 con số và theo nó tới giây phút cuối cùng. Nó có thể là 1 tuần/lần, 2 tuần/lần hay bất cứ con số nào mà bạn cảm thấy thoải mái. Hãy đặt vấn đề này rõ ràng trong quá trình đăng ký.
- Cho phép subscriber tự lựa chọn mức độ thường xuyên mà email của bạn được gửi tới. Chẳng hạn, họ có thể tham gia một danh sách email nhận được email hàng ngày, hàng tuần hay hàng tháng.
- Mời các subscriber tham gia một danh sách email mới. Nếu muốn bắt đầu gửi email hàng tuần cho mọi người, hãy mời các subscriber hiện tại gia nhập list mới này với mức độ nhận email thường xuyên hơn.
- Đối thoại vô cùng quan trọng khi tăng mức độ thường xuyên gửi email. Càng nhiều subscriber biết, họ sẽ càng kiểm soát được quyết định của mình, và càng ít khả năng họ unsubcriber.
Sưu tầm
Quy luật tập trung
Vũ khí mạnh mẽ nhất trong marketing là gắn được một từ ngữ vào tâm trí khách hàng.
 Một công ty có thể trở nên thành công vượt bậc nếu họ tìm cách đưa được một từ ngữ hoặc một cụm từ vào tâm trí của khách hàng tiềm năng. Đó không phải là một từ ngữ phức tạp, cũng không phải là từ ngữ quá bay bổng. Tốt nhất là từ đơn giản, những từ có thể lấy ngay từ trong từ điển ra.
Đây chính là nội dung của quy luật Tập trung. Bạn mở đường vào tâm trí khách hàng bằng cách thu hẹp diện tập trung của khách hàng vào một điểm - một từ hoặc cụm từ duy nhất. Điều đó đòi hỏi sự hy sinh tột bực trong marketing. Federal Express đã có thể gán từ "overnight" (ngay lập tức) vào tâm trí khách hàng tiềm năng, bởi vì họ đã "hy sinh" cả dòng sản phẩm mà chỉ tập trung sự chú ý của khách hàng vào khả năng giao hàng "overnight".
Quy luật Tiên phong cũng phát huy hiệu quả theo cách này. Nó cho phép thương hiệu đầu tiên hoặc công ty đầu tiên bước vào thị trường gán được một từ, hoặc một cụm từ vào tâm trí khách hàng. Từ hoặc cụm từ đó đơn giản đến mức trở thành một thứ vô hình.
Thương hiệu đi đầu sẽ mang một từ đại diện cho cả sản phẩm hay dịch vụ thuộc lĩnh vực nào đó. Ví dụ, IBM đã gán thành công từ "máy tính" vào tâm trí khách hàng. Nói cách khác, thương hiệu của IBM đã trở thành cái tên chung để chỉ cả dòng sản phẩm máy tính. "Tôi muốn mua một máy IBM". Nghe nói vậy, có ai không hiểu là người nói đang cần mua một chiếc máy tính không nhỉ?
Bạn cũng có thể kiểm tra giá trị của việc trở thành người tiên phong bằng cách kiểm tra sự liên hệ giữa một thương hiệu với từ, hoặc cụm từ, tương ứng. Nếu các cụm từ được liệt kê ra đây là: "máy tính", "máy photocopy", "sô-cô-la", "cola", thì bốn thương hiệu có liên hệ chặt chẽ nhất với chúng là: IBM, Xerox, Hershey's, và Coke.
Người đi đầu thông minh sẽ đi một bước xa hơn để củng cố vị trí của mình. Heinz bắt được từ "ketchup" (nước xốt cà chua). Nhưng họ còn đi xa hơn: làm nổi bật thuộc tính quan trọng nhất của nước xốt cà chua, là "chảy chậm". Với khẩu hiệu "Slowest ketchup in the West" (nước xốt cà chua chảy chậm nhất miền Tây), Heinz đã sở hữu được tính năng "độ đậm đặc" mà các đối thủ cạnh tranh đến sau muốn nhắm đến. Gây ấn tượng với khách hàng nhờ tính năng "chảy chậm" đã giúp Heinz duy trì 50% thị phần.
Nếu không phải người đi tiên phong, thì từ ngữ mà bạn chọn để đại diện cho sản phẩm của mình phải hết sức cô đọng, súc tích. Tuy nhiên, quan trọng hơn là từ hoặc cụm từ đó phải mô tả được đặc tính sẵn có trong sản phẩm của bạn mà không một sản phẩm nào khác sở hữu được.
Bạn không cần phải là thiên tài ngôn ngữ thì mới tìm được một từ ngữ đắt giá. Trên thị trường nước xốt dùng cho món mì Ý, hãng Prego đã đối đầu với kẻ đi tiên phong là Ragu. Và Prego đã chiếm được thị phần đáng kể nhờ một ý tưởng vay mượn từ Heinz. Họ chọn cho sản phẩm của mình từ "thicker" (đậm đặc hơn).
Những từ đại diện hiệu quả nhất là những từ ngữ đơn giản nhất và hướng vào lợi ích của khách hàng. Cho dù sản phẩm hay dịch vụ có phức tạp đến mức độ nào, cho dù nhu cầu của thị trường có phức tạp đến đâu, tốt nhất bạn hãy luôn tập trung vào chỉ một đặc tính hoặc lợi ích nổi bật nhất mà sản phẩm mang lại, và thể hiện đặc tính đó bằng một từ hoặc cụm từ cô đọng.
Ngoài ra, bạn cũng nên quan tâm đến hiệu ứng halo(1). Nếu một sản phẩm đã thiết lập được niềm tin vững chắc về lợi ích đối với khách hàng thì chắc chắn khách hàng sẽ tiếp tục tin rằng sản phẩm đó còn đem lại nhiều lợi ích khác nữa. Món nước xốt mì Ý "đậm đặc hơn" rất có thể có chất lượng, có dinh dưỡng, có hương vị thơm ngon, v.v. Hoặc một chiếc xe "an toàn hơn" cũng hàm ý rằng chiếc xe đó có thiết kế đẹp hơn và kỹ thuật tốt hơn.
Cho dù đó có phải là kết quả của một chương trình được tính toán và cân nhắc cẩn trọng hay không thì hầu hết các công ty và thương hiệu thành công là những công ty và thương hiệu đã gán được một đặc tính của sản phẩm hay dịch vụ thể hiện dưới dạng một từ ngữ hoặc cụm từ vào tâm trí khách hàng. Bạn hãy xem một vài ví dụ điển hình:
Crest... Cavities (ngừa sâu răng)
Mercedes... Engineering (thiết kế kỹ thuật)
BMW... Driving (truyền động)
Volvo... Safety (an toàn)
Domino's... Home Delivery (giao hàng tận nhà)
Pepsi-Cola... Youth (giới trẻ)
Nordstrom... Service (dịch vụ)
Những từ hoặc cụm từ trên thể hiện sự đa dạng, muôn hình muôn vẻ, mỗi từ ngữ đều liên quan đến một đặc tính cụ thể nào đó của sản phẩm hay dịch vụ như liên quan đến lợi ích (ngăn ngừa sâu răng), liên quan đến dịch vụ (giao hàng tận nhà), liên quan đến khách hàng (giới trẻ), ...
Mặc dù chúng ta luôn tìm mọi cách để từ ngữ đại diện in sâu vào tâm trí khách hàng, nhưng chẳng có điều gì là vĩnh cửu. Sẽ đến lúc các công ty phải thay đổi từ hoặc cụm từ vốn đã gắn liền với sản phẩm hay dịch vụ của mình. Tuy nhiên, việc thay đổi này không phải dễ dàng. Lịch sử gần đây của Lotus Development Corporation đã minh chứng cho thực chất của vấn đề này.
Trong một vài năm, Lotus đã đưa được từ "spreadsheet" (bảng tính) vào tâm trí của khách hàng. Cái tên Lotus được người tiêu dùng xem như đồng nhất với 1-2-3 và spreadsheet. Thế nhưng, sức cạnh tranh của thị trường này ngày càng trở nên gay gắt, do vậy khả năng phát triển thêm nữa đã trở nên hạn chế. Vậy Lotus làm cách nào để  phát triển mạnh hơn và vượt ra khỏi ngành kinh doanh chỉ có mỗi một sản phẩm này?
Câu trả lời thông thường sẽ là mở rộng hoạt động về tất cả các hướng, giống như IBM đã làm. Trên thực tế, Lotus cũng đã mở rộng danh mục sản phẩm của mình, bằng việc mua phần mềm xử lý văn bản Ami Pro và tung ra thị trường một số phần mềm ứng dụng mới. Tuy nhiên, sau đó Lotus đã tái cơ cấu để chỉ tập trung vào việc phát triển "phần mềm nhóm - groupware"(1) - phần mềm dành cho máy tính cá nhân nối mạng.
Lotus là công ty phần mềm đầu tiên phát triển thành công sản phẩm phần mềm nhóm và công ty này đã sở hữu được từ thứ hai trong tâm trí khách hàng, từ "groupware". Lotus đã thu hẹp diện tập trung vào một điểm. Thành công tất nhiên sẽ không đến trong một sớm một chiều, nhưng cuối cùng Lotus đã có được vị thế lâu dài và vững vàng trong thị trường phần mềm. Từ "groupware" đã mang lại cho Lotus những gì mà từ "overnight" mang lại cho Federal Express, và "safety" cho Volvo.
Bạn không được sử dụng từ đại diện của người khác. Điều giúp cho chiến dịch của Lotus trở nên khả thi là từ "groupware" chưa bị một công ty nào khai thác trước đó. Hơn nữa, Lotus ra đời trong thời điểm nhu cầu sử dụng máy tính nối mạng ngày càng tăng cao. Nhiều công ty bắt đầu nhận ra lợi ích của việc tạo cho sản phẩm hay dịch vụ của mình một đặc tính duy nhất, cô đọng trong một cụm từ duy nhất, thế nhưng có thể do quá lơ đễnh họ đã để vuột mất vai trò người đầu tiên sở hữu được từ hay cụm từ nào đó.
Trong marketing, không nên bỏ cụm từ gắn với sản phẩm của mình để giành lấy cụm từ đã bị công ty khác sử dụng từ trước. Đó là trường hợp của Atari, công ty sở hữu cụm từ "video game" (trò chơi điện tử). Năm 1982, Atari chọn lựa một hướng đi mới. Họ muốn từ "Atari" sẽ là thương hiệu gắn với "máy tính", chứ không phải "trò chơi điện tử" nữa. Tổng Giám đốc (CEO) James Morgan của Atari tuyên bố: "Sức mạnh của cái tên Atari cũng có thể là điểm yếu. Từ Atari đã bị đồng nhất với "video game". Atari phải định vị lại hình ảnh của mình và mở rộng lĩnh vực kinh doanh sang các sản phẩm điện tử tiêu dùng". Không may cho chiến dịch của ông Morgan, một loạt công ty khác, trong đó có Apple và IBM, đã sở hữu từ "máy tính" mà Atari muốn theo đuổi. Chiến lược đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của Atari đã trở thành thảm họa. Nhưng điều trớ trêu hơn cả là một công ty khác, xuất hiện năm 1986, đã cuỗm đi cái từ "video game" mà Atari bỏ rơi. Công ty ấy là Nintendo.
Bản chất của marketing là thu hẹp diện tập trung. Bạn sẽ trở nên mạnh hơn khi giới hạn quy mô các hoạt động. Bạn không thể đại diện cho một thứ gì cụ thể nếu theo đuổi tất cả mọi thứ.
Một số công ty chấp nhận thu hẹp diện tập trung và cố gắng xây dựng chiến dịch này theo những cách... tự chuốc lấy thất bại: "Chúng tôi sẽ tập trung vào mục tiêu chất lượng. Chúng tôi sẽ không nhằm vào mục tiêu thấp kém là giá cả". Vấn đề là khách hàng sẽ không tin bạn đâu, trừ phi bạn chỉ kinh doanh các sản phẩm giá cao mà thôi (giống như cách mà Mercedes-Benz hay BMW đã làm).
General Motors cố gắng bán hàng có chất lượng cao ở mọi mức giá. "Putting quality on the road" (Đặt chất lượng trên đường trường) là khẩu hiệu gần đây nhất của công ty này. Mọi sản phẩm GM đều có dòng chữ "Mark of Exellence" (Chất lượng xuất sắc). Bạn hãy đoán xem Ford làm gì? Họ cũng thực hiện tương tự như vậy trong mẫu quảng cáo của mình: "Quality is Job 1" (Chất lượng là hàng đầu). Còn Lee Iacocca, giám đốc điều hành của Chrysler tuyên bố: "We don't want to be the biggest, we just want to be the best" (Chúng tôi không muốn làm người lớn mạnh nhất, chúng tôi chỉ muốn làm người giỏi nhất). Liệu có ai thật sự tin rằng Iacocca không muốn công ty mình trở nên lớn mạnh nhất hay không?
Bạn không thể thu hẹp diện tập trung vào mục tiêu chất lượng hay bất kỳ mục tiêu nào khác mà lại không khiến mọi người nghĩ đến một quan điểm trái ngược. Tương tự như thế, bạn cũng không thể tự nhận mình là một chính trị gia trung thực, vì chẳng ai chịu nhận mình ở vị trí đối lập với bạn (mặc dù có rất nhiều người là như vậy). Tuy nhiên, bạn có thể tự nhận mình là người ủng hộ giới kinh doanh, hoặc ủng hộ người lao động; như vậy bạn có thể được chấp nhận ngay lập tức, bởi vì cả hai phía đều có người ủng hộ cả.
Khi dồn sức vào phát triển một đặc tính nào đó của sản phẩm, hãy chuẩn bị tinh thần sẵn sàng tránh né các luật sư. Họ muốn đóng dấu trademark (nhãn hiệu đã đăng ký) lên tất cả những gì bạn công bố. Bí quyết để tháo gỡ việc này là làm cho những người khác cũng cần đến từ đại diện mà bạn đang sở hữu. [Để làm người đi đầu, bạn cần có những người theo sau]. Lotus được lợi nếu sau họ có những công ty khác cũng lao vào lĩnh vực phát triển phần mềm nhóm. Điều đó sẽ làm cho sản phẩm này càng quan trọng hơn, và mọi người sẽ càng ấn tượng hơn về sự đi đầu của Lotus.
Một khi đã thiết lập được từ đại diện riêng gắn với sản phẩm của mình, bạn phải nỗ lực bảo vệ nó. Trường hợp BMW là một minh họa điển hình cho điều này. Trong nhiều năm liền, BMW đã là một "the ultimate driving machine" (cỗ máy lái xe thượng hạng). Sau đó, công ty này bắt đầu mở rộng dòng sản phẩm để chạy đua cùng Mercedes-Benz với sản phẩm xe sedan rộng, serie 700. Vấn đề là làm cách nào mà một phòng khách đặt trên 4 bánh xe lại có thể là "cỗ máy lái xe" thượng hạng được? Bạn không chỉ vừa mất cảm giác về mặt đường, mà lại còn dễ đâm đầu vào các cột điện cao thế. Hậu quả là BMW bắt đầu tụt dốc. Tuy nhiên thật may là gần đây họ đã cho ra đời một loại BMW nhỏ mới và đang nhấn mạnh trở lại vào thuộc tính "driving". BMW đã lấy lại được nét đặc trưng của mình thể hiện qua từ "driving".
Sưu tầm (Sách 22 Quy luật bất biến trong Marketing)
Quy luật nhận thức
Marketing không phải là cuộc chiến về sản phẩm mà là cuộc chiến về nhận thức.
Nhiều người quan niệm rằng marketing là cuộc đọ sức giữa các sản phẩm, và theo thời gian, sản phẩm thắng thế là sản phẩm tốt nhất. Với suy nghĩ này, những người làm marketing thường chỉ nghĩ đến việc "nghiên cứu" và "thu thập dữ liệu thực tế".
Họ phân tích tình hình để tin chắc rằng mình nhận định đúng. Sau đó, họ tự tin giương cờ tiến vào chiến trường marketing, với niềm tin rằng mình cung cấp sản phẩm tốt nhất, và sản phẩm tốt nhất này sẽ giành chiến thắng.
Nhưng đó chỉ là ảo tưởng. Không có yếu tố khách quan nào ở đây cả. Không có dữ liệu thực tế nào cả. Cũng không có sản phẩm nào là sản phẩm tốt nhất cả! Tất cả những gì tồn tại trong thế giới marketing chỉ là nhận thức - cái tồn tại trong ý thức khách hàng tiềm năng. Nhận thức của khách hàng mới chính là thực tế và quan trọng nhất. Tất cả những cái khác đều là ảo tưởng.
Mọi chân lý đều mang tính tương đối, tùy thuộc vào nhận thức của từng cá nhân. Khi bạn nói: "Tôi đúng, người kia sai" thực ra là bạn đang khẳng định nhận thức của bạn. Trong thực tế, có nhiều người luôn tự cho rằng họ có nhận thức đúng đắn hơn những người khác. Họ có cảm giác rằng mình không thể sai. Nhận thức của họ chính xác hơn của người đồng nghiệp, của hàng xóm hay của bạn bè người thân. Họ lầm lẫn giữa chân lý và nhận thức cá nhân. Với họ, hai khái niệm này dường như không có sự khác biệt nào. Nhưng việc phân biệt hai khái niệm thật ra cũng không phải dễ dàng. Và để đương đầu với thực tế đáng sợ là mình trở thành một cá thể cô đơn trong vũ trụ, con người bắt đầu phản chiếu cái tôi cá nhân của mình ra thế giới bên ngoài. Họ "sống" trong thế giới sách, phim ảnh, truyền hình, báo chí. Họ "thuộc về" những câu lạc bộ, tổ chức, đoàn thể, thể chế. Cái thế giới bên ngoài này dường như lại thật hơn chính cái thế giới tồn tại thật sự trong nhận thức của họ. Thế nhưng thực tế duy nhất mà bạn có thể tin tưởng một cách chắc chắn lại chính là nhận thức, là quan niệm riêng của bạn. Nếu vũ trụ tồn tại, nó tồn tại trong nhận thức của bạn. Đó là một thực tế mà các chương trình marketing phải đối diện. Marketing chính là nghệ thuật xử lý những quan niệm, những nhận thức đó.
Nhiều sai lầm trong marketing xuất phát từ ảo tưởng rằng chúng ta đang đua tranh về chất lượng sản phẩm và cuộc đua đó gắn chặt với thực tế. Tất cả những nguyên tắc marketing mà cuốn sách này nêu ra lại xuất phát từ quan điểm hoàn toàn trái ngược.
Điều mà một số người làm marketing xem là "quy luật tự nhiên" của marketing thì lại dựa trên giả thuyết không hoàn toàn đúng rằng chất lượng sản phẩm là mấu chốt của chiến lược marketing, và rằng việc bạn thắng hoặc thua hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm. Đó chính là lý do tại sao những hoạt động marketing sản phẩm, được triển khai một cách tự nhiên và hợp lô-gíc, nhưng lại không đạt hiệu quả như mong đợi.
Chỉ có thông qua việc nghiên cứu cơ chế hình thành nhận thức khách hàng và tập trung tất cả các chương trình marketing vào những nhận thức ấy, thì bạn mới có thể chiến thắng được những hình thức marketing theo lối mòn trước đây.
Người làm marketing chú ý nhiều đến dữ liệu thực tế bởi họ tin vào thực tế khách quan. Hơn nữa, người làm marketing thường luôn cho rằng mình đúng. Nếu đã nghĩ "phải có sản phẩm tốt nhất thì mới chiến thắng trong cuộc chiến marketing", thì bạn cũng rất dễ dàng tin rằng mình đã có trong tay sản phẩm tốt nhất. Ở đây, điều cần làm là hãy thay đổi quan điểm của bạn.
Việc thay đổi nhận thức của khách hàng lại là một vấn đề khác. Sau khi có chút ít kinh nghiệm sử dụng một sản phẩm nhất định, khách hàng khẳng định ngay rằng họ luôn đúng. Nhận thức tồn tại trong tâm trí họ thường được diễn giải như chân lý phổ quát.
Bạn hãy xem xét tình huống sau để nhận thấy sức mạnh của nhận thức mà khách hàng áp đặt cho cùng một chủng loại sản phẩm.
Ở thị trường Mỹ, ba thương hiệu xe hơi Nhật Bản bán chạy nhất là Honda, Toyota và Nissan. Nhiều người làm marketing cho rằng cuộc cạnh tranh giữa ba thương hiệu này dựa trên các tiêu chí chất lượng, kiểu dáng, công suất và giá cả. Nhưng thực tế không như vậy. Tiêu chí quyết định thương hiệu nào sẽ thắng thế phụ thuộc vào việc mọi người nghĩ như thế nào về Honda, Toyota và Nissan. Rõ ràng, marketing là cuộc chiến về nhận thức.
Các nhà sản xuất xe hơi Nhật bán ra thị trường Mỹ cùng loại xe mà họ bán ở Nhật. Nếu marketing quả thật là cuộc chiến về sản phẩm, bạn ắt phải nghĩ rằng ở cả hai thị trường thứ tự về doanh thu của các hãng sẽ như nhau. Cùng chất lượng, cùng kiểu dáng, cùng công suất, và giá cả tương đương sẽ cho doanh thu tương đương nhau - ở Nhật cũng như ở Mỹ. Nhưng ở Nhật, Honda không phải là công ty hàng đầu về xe hơi. Tại đây, Honda chỉ giữ vị trí thứ ba, sau Toyota và Nissan. Doanh số của Honda chỉ bằng 1/4 doanh số của Toyota.
Như vậy, có điều gì khác biệt giữa Honda ở Nhật và Honda ở Mỹ? Đó chính là: sản phẩm giống nhau, nhưng nhận thức của khách hàng trên hai thị trường này lại khác nhau. Nếu bạn khoe với bạn bè mình ở New York rằng bạn vừa mua một chiếc Honda, họ sẽ hỏi bạn: "Cậu mua xe hơi gì? Civic? Accord? Prelude?". Còn nếu bạn kể với bạn bè mình ở Tokyo rằng bạn đã mua một chiếc Honda, họ sẽ hỏi bạn: "Cậu mua xe máy gì?" Ở Nhật, Honda được khách hàng biết đến như một nhà sản xuất xe máy, và có vẻ như không ai muốn mua xe hơi do một hãng chuyên về xe máy sản xuất.
Tiếp theo, bạn hãy xem xét tình huống ngược lại: Theo bạn, liệu Harley-Davidson có thành công không nếu họ sản xuất xe hơi hiệu Harley-Davidson? Có thể bạn sẽ cho rằng điều đó tùy thuộc vào sản phẩm mà họ cung cấp - vào chất lượng, kiểu dáng, công suất, giá cả. Thậm chí có khi bạn còn tin rằng uy tín của Harley-Davidson sẽ là một thứ giá trị gia tăng. Nhưng chúng tôi không nghĩ vậy. Nhận thức của khách hàng về Harley-Davidson - "đây là một công ty chuyên sản xuất mô tô" - sẽ dìm chết chiếc xe hơi hiệu Harley-Davidson, bất kể chiếc xe hơi đó tốt đến mức nào.
Tại sao xà phòng của Campbell là sản phẩm hàng đầu ở thị trường Mỹ mà chẳng được chú ý ở Anh? Tại sao xúp Heinz thành công ở Anh nhưng lại thất bại thảm hại ở Mỹ? Vì marketing chính là nghệ thuật xử lý nhận thức của khách hàng.
Trong lĩnh vực giải khát, nhiều người cho rằng marketing là cuộc chiến về hương vị. Vậy thì, New Coke có vị ngon nhất (hãng Coca-Cola đã tiến hành 200.000 cuộc thử nghiệm và chứng minh được rằng New Coke uống ngon hơn Pepsi-Cola, và Pepsi ngon hơn Coca-Cola Classic - công thức đầu tiên của Coca-Cola, ngày nay được gọi là Coca-Cola cổ điển). Nhưng ai đã chiến thắng trong cuộc chiến marketing này? Thức uống mà các kết quả nghiên cứu đã chứng minh là ngon nhất - New Coke - chỉ đứng ở vị trí thứ ba. Trong khi đó, thức uống có hương vị kém nhất - tức Coca-Cola Classic - lại dẫn đầu.
Bạn sẽ tin điều gì bạn muốn tin. Bạn sẽ uống thứ gì bạn muốn uống. Marketing sản phẩm thức uống cũng là cuộc chiến về quan niệm chứ không phải cuộc đọ sức về hương vị, chất lượng. Điều khiến cho cuộc chiến trở nên gian nan là khách hàng lại thường đưa ra các quyết định mua hàng dựa theo nhận thức của người khác về thực tế. Đây gọi là nguyên tắc "tất cả mọi người đều bảo như thế".
Ai cũng bảo rằng xe hơi Nhật tốt hơn xe hơi Mỹ. Thế là người ta quyết định mua dựa trên "thực tế" là ai cũng biết rằng Nhật Bản sản xuất xe hơi chất lượng tốt hơn. Hầu hết khách hàng không có kinh nghiệm nhiều về sản phẩm, thậm chí kinh nghiệm của họ thường xuyên bị thay đổi cho phù hợp với nhận thức của họ. Nếu bạn mua phải một chiếc xe hơi Nhật kém chất lượng thì đấy là vì bạn kém may mắn, bởi vì ai cũng bảo là xe Nhật tốt. Ngược lại, nếu bạn mua một chiếc xe hơi tốt của Mỹ thì: "Bạn may mắn đấy!", vì ai cũng bảo là xe Mỹ chất lượng không bằng.
Mọi người đều đã biết câu chuyện xảy ra với xe hơi Audi. Ngày 23 tháng 11 năm 1986, kênh truyền hình CBS phát một chương trình dài 60 phút mang tên "Ngoài tầm kiểm soát". Chương trình này khuyến cáo mọi người lưu ý một loạt khiếu nại về chuyện Audi "tăng tốc ngoài ý muốn". Ngay sau đó, lượng xe Audi tiêu thụ ở Mỹ sụt giảm theo đà rơi tự do - từ 60.000 chiếc năm 1986 xuống còn 12.000 chiếc năm 1991. Nhưng thật ra cá nhân bạn đã bao giờ gặp trục trặc "tăng tốc ngoài ý muốn" khi đi xe Audi chưa? Chưa chắc! Và tất cả các chuyên gia thử xe này đều đã không tán đồng với khiếu nại đó. Thế nhưng cái quan niệm kia thì vẫn tồn tại dai dẳng như một lời thách thức khó chịu cho các nhà lãnh đạo của hãng Audi. Sau đó, Audi đã chạy quảng cáo so sánh sản phẩm xe hơi của họ với các dòng xe tương tự của Mercedes-Benz và BMW. Và theo mẫu quảng cáo này, các chuyên gia xe hơi của Đức xếp Audi trên cả Mercedes và BMW.
Bạn có tin điều này không? Có lẽ là không. Liệu họ nói có đúng chăng? Nhưng nếu đúng thì cũng không có vấn đề gì xảy ra. Một lần nữa câu chuyện này lại minh chứng cho quy luật Nhận thức: marketing không phải là cuộc chiến cạnh tranh về chất lượng sản phẩm mà là cuộc đọ sức về nhận thức của khách hàng.
Sưu tầm