Blog

Joe's Food Blog
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Chân dung loại này được bắt đầu bời Andrzej Dragan khoảng năm 2003-2004, Lúc Andre Dragan mới được bầu là Photo of the Week tại photo.net, mọi người ai cũng xôn xao để cố bắt trước cách xử lý Photoshop của ông ta.
Lúc đó website của Andrzej Dragan còn rất thô sơ không đẹp như bây giờ vì lúc đó chưa nổi tiếng như hiện nay, trên web của ông ta có chỉ một phần nhỏ cách làm.
Ai cũng thử  ra tay xử lý hình theo thể loại Dragan effect này, có rất nhiều người làm được khá giống Andrzej Dragan, nhưng  không ai có được một tác phẩm như của ông cả, lý do rất đơn giản xử lý ảnh chỉ là một phần nhỏ của tác phẩm, cách ông ta chụp, thần thái nhân vật do Andrzej Dragan chụp, cách setup khung cảnh, đóng một vai trò to lớn trong sự thành công của ông ta…
Và hôm nay Lý Ngộ cũng muốn gửi tới các bạn 1 Tutorial về thể loại Dragan Effect này…
Bước 1: mở stock lên (download tại đây) và nhân đôi nó lên (Ctrl + J).
Tiếp đến ta vào Filter  > Other > High Pass để thông số là 7.3 và để chế độ blend là Overlay thì ta sẽ được như hình:
Làm ảnh trắng đen nghệ thuật theo phong cách Dragan
Bước 2: Lúc này ta sẽ merge 2 layer lại với nhau (Ctrl + Shift + E) rồi ta lại nhân đôi nó lên (Ctrl + J)
Tiếp theo mở bảng Curves (Ctrl + M) rồi chỉnh thông số như hình: 
Làm ảnh trắng đen nghệ thuật theo phong cách Dragan
Bước 3: Tạo 1 layer mới (Ctrl + Shift + N), fill màu đen lên (#000000) rồi để chế độ blend là Hue , rồi để Opacity : 30% ta sẽ được như hình:
Làm ảnh trắng đen nghệ thuật theo phong cách Dragan
Bước 4: Vào Image > Mode > Lab Color (lúc này nó sẽ hiện lên 1 cái bảng , các bạn chọn Merge nhé).
Sau đó các vào mở Channels lên và chọn Lightness như hình: 
Làm ảnh trắng đen nghệ thuật theo phong cách Dragan
Bước 5: tiếp theo ta vào Filter > Sharpen > Unsharp Mask rồi chọn thông số như hình: 
Làm ảnh trắng đen nghệ thuật theo phong cách Dragan
Bước 6: Rồi ta vào Image > Mode > RGB Color.
Và vào Image > Adjustment > Hue/ Saturation > chỉnh thông số như hình. (bước thì mình có thể tùy chỉnh, nếu các bạn muốn có thêm 1 chút sắc màu cho hình của mình thì dùng Hue/ Saturation, còn muốn là hình trắng đen thì các bạn vào  Image > Adjustment > Black & white). 
Làm ảnh trắng đen nghệ thuật theo phong cách Dragan
Bước 7: Tiếp theo vào Image > Adjustment > Shadow/Highlights (lúc này mình sẽ tùy chỉnh Shadow tùy theo sắc độ của hình để căn bằng cùng sáng và cùng tối của hình).
Làm ảnh trắng đen nghệ thuật theo phong cách Dragan
Và đây là kết quả của chúng ta, phong cách làm ảnh Dragan :D
Làm ảnh trắng đen nghệ thuật theo phong cách Dragan
 P/s: tuy nhiên cách làm ảnh theo phong cách Dragan nó không làm cho ảnh trắng đen hoàn toàn, mà là làm trên là nó làm cho ảnh có sắc tố sậm màu nâu, nếu các bạn thích hình trắng đen thì các bạn làm thêm bước này, các bạn vào Image > Adjustment > Black & White là ta có 1 bức ảnh trắng đen khá nghệ thuật.
Dưới đây là 1 số ví dụ sau khi cho thành trắng đen:
Làm ảnh trắng đen nghệ thuật theo phong cách Dragan
Làm ảnh trắng đen nghệ thuật theo phong cách Dragan
Tác phẩm này mang phong cách Dragan, chưa chuyển sang black & white
Tác phẩm này mang phong cách Dragan, chưa chuyển sang black & white
 Rất đơn giản đúng không nào? Chúc các bạn thành công 

Nguồn: vietdesigner
Cũng là một phong cách nội thất, trường phái “tối giản” (Minimalism) là một trong những trường phái trang trí nội thất đã và đang thịnh hành ở giai đoạn cuối thế kỷ 20 – đầu thế kỷ 21.
“Phong cách tối giản hay Phong cách tối thiểu (tiếng Anh: Minimalism, tiếng Pháp: Minimalisme) thể hiện những khuynh hướng đa dạng của nghệ thuật, đặc biệt trong nghệ thuật thị giác  và âm nhạc mà các tác phẩm được tối giản vể những yêu cầu thiết yếu nhất của nó.
Phong cách tối giản xuất phát trong nghệ thuật phương Tây từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2, rõ nét nhất là trong nghệ thuật thị giác với các tác phẩm hội họa của Mark Rothko. Khái niệm này dần dần được mở rộng để bao hàm cả những khuynh hướng trong âm nhạc mà đặc điểm là sự lặp lại, điển hình là các tác phẩm của Steve Reich, Philip Glass và Terry Riley Phong cách tối giản có nguồn gốc bắt rễ từ sự thuần khiết và cô đọng của chủ nghĩa Hiện đại, được kết hợp với chủ nghĩa Hậu hiện đại và được xem như phản ứng đối ngược lại với chủ nghĩa Biểu hiện trong nội dung cũng như trong bố cục tác phẩm.”
Trường phái này hiện tại đang cực thịnh ở châu Âu, cái nôi của trang trí nội thất. Minimalism ảnh hưởng rất mạnh đến xu hướng trang trí nội thất tại các nước Bắc Âu trong những năm cuối thập kỷ 90 cho đến hiện nay, và có ảnh hưởng khá lớn ở châu Mỹ. Ở châu Á, Nhật Bản được xem là bậc thầy của phong cách hiện đại tinh tế này, và ta có thể tìm thấy âm hưởng của trường phái minimalism trong hầu hết các công trình kiến trúc Nhật đương đại lẫn truyền thống.

Ít hơn có nghĩa là nhiều hơn

Phong cách Minimalism

Căn phòng của công ty British American Tobacco tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên. Nếu lấy ra bớt bàn ghế bố trí khá dày đặc thì đây là điển hình trong việc áp dụng phong cách Minimalism vào thiết kế văn phòng. tường trắng làm nổi bật các thành phần trang trí khác
 
 
 
 
  Phong cách “tối giản” đúng như tên gọi của nó, chú trọng việc giảm thiểu đến tối đa việc trang trí trong không gian nội thất.
Đi ngược lại các tiêu chuẩn trang trí nội thất truyền thống về việc làm phong phú không gian bên trong với các vật dụng và chi tiết trang trí phức tạp, phong cách này hướng đến việc loại bỏ các vật dụng thừa thãi nhằm giữ lại một không gian trống hoàn hảo.
Chịu ảnh hưởng rất lớn từ quan niệm cũng như phong cách thiết kế và trang trí Nhật Bản, đồng thời được xây dựng trên nền tảng triết lý “ít hơn có nghĩa là nhiều hơn – less is more (*)”, việc trang trí nội thất theo phong cách minimalism hướng sự chú ý đến những đường nét và kết cấu được ẩn giấu bên dưới.
Các mảng tường, sàn và hiệu quả ánh sáng trên các mặt phẳng này chính là những yếu tố quan trọng làm nên phong cách tối giản. Sử dụng những đường nét đơn giản và sự kết hợp có tính toán của các mặt phẳng, không gian nội thất theo phong cách này là một tổng thể thống nhất, chặt chẽ về bố cục và nhất là giữ lại được một không gian kiến trúc đẹp, thoáng đãng, rộng rãi.

Hạn chế là nguyên tắc chính

Phong cách MinimalismViệc hạn chế sử dụng đồ đạc không có nghĩa là tạo ra không gian lạnh lẽo, buồn chán. nếu bố trí hợp lý, chọn lọc vật liệu nội thất theo phong cách minimalism sẽ có tổng thể tuy đơn giản nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ
 
 
 
 
Cũng như các phong cách nội thất khác, phong cách minimalism cũng có những đặc điểm nổi bật giúp phân biệt với các phong cách khác.
Nguyên tắc chủ đạo của phong cách này được gói gọn trong hai chữ “hạn chế”. Hạn chế trong trang trí, hạn chế bố trí quá nhiều đồ đạc trong nội thất, chỉ giữ lại thành phần nào thật sự cần thiết và đáp ứng được yêu cầu về công năng lẫn thẩm mỹ. Sự sử dụng hạn chế về màu sắc trong trang trí là đặc trưng dễ nhận diện nhất của phong cách này.
Thông thường, có không quá ba màu trong không gian nội thất theo phong cách minimalism: một màu nền, một màu chủ đạo và một màu nhấn. Màu sắc của các mảng tường là màu trung tính nhằm tạo ra một phông đệm cho các vật dụng trang trí bên trong, hướng sự chú ý của người quan sát đến những điểm nhấn quan trọng.
Phông màu trung tính cũng có tác dụng tạo sự tương phản mạnh mẽ giữa các thành phần trang trí và có tác dụng kết nối các thành phần này lại với nhau. Các mảng tường trắng được sử dụng rất phổ biến trong phong cách minimalism như một phông nền trơn nhằm tăng giá trị các đồ đạc xung quanh, đồng thời mang lại hiệu quả thị giác về một không gian rộng rãi hơn, thoáng đãng hơn.

Dùng ánh sáng làm… nội thất


Trong nội thất thiết kế theo phong cách minimalism, ánh sáng là một thành phần rất quan trọng của tổng thể trang trí chung, nhằm tạo ra các hiệu ứng bóng đổ phong phú – Ảnh: Tạp chí kiến trúc JA-summer
 
 
 
 
Do hạn chế sử dụng màu sắc trong nội thất, ánh sáng trong phong cách minimalism được xem như một thành phần trang trí quan trọng để tạo ra các hiệu ứng thị giác và thẩm mỹ. Việc sử dụng ánh sáng, nhất là ánh sáng tự nhiên, được chú trọng nhằm nhấn mạnh các khu vực quan trọng và tạo ra bóng đổ với hiệu quả cao để tôn lên các hình khối của vật dụng và các thành phần kiến trúc khác.
Ánh sáng tự nhiên được lọc qua các rèm cửa, các bình phong chắn, bông gió trên tường hay thậm chí xuyên qua các tàng cây bên ngoài một cách có chủ đích để khi xuyên vào đến không gian bên trong đạt được hiệu quả chiếu sáng và thẩm mỹ mà người thiết kế đã định hướng trước. Ánh sáng nhân tạo được chọn lọc một cách cẩn thận để nhấn mạnh được hình dạng và cấu trúc của các thành phần trang trí nội thất.
Về phần mình, các thành phần trang trí nội thất cũng như vật dụng, bàn ghế (furniture) được sử dụng ở mức độ tối giản, nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về tiện nghi sử dụng. Bàn ghế trong nội thất theo phong cách minimalism đều có hình dạng đơn giản, hài hoà và hiện đại, được làm nên từ các đường nét không cầu kỳ nhưng tinh tế. Các vật dụng này một mặt đáp ứng được nhu cầu sử dụng, sinh hoạt của con người, mặt khác cũng chính là những thành phần trang trí cho nội thất bên trong. Bàn ghế không chỉ là nơi để ngồi mà còn được xem là những tác phẩm điêu khắc làm nên nét đẹp cho không gian bên trong.

Một phong cách sống phù hợp

Phong cách minimalism được áp dụng trong thiết kế nội thất văn phòng một cách dễ dàng. Không gian làm việc thường được yêu cầu sắp xếp và bố trí gọn gàng, đồng thời vẫn đáp ứng được công năng sử dụng một cách tốt nhất. Điều này phù hợp với các tiêu chí của trường phái minimalism. Và mặc dù đa số các văn phòng làm việc sử dụng ánh sáng nhân tạo là nguồn chiếu sáng chính, càng về sau này xu hướng tận dụng tối đa nguồn ánh sáng tự nhiên ngày càng được phổ biến.
Việc bố trí một không gian văn phòng gọn gàng, bố trí đẹp mắt, tràn ngập ánh sáng tự nhiên có thể làm tăng sự nhiệt tình và cổ động tinh thần làm việc của nhân viên. Ngoài ra, việc sử dụng có chọn lọc và hạn chế các vật liệu ốp lát trong nội thất văn phòng cùng với các khu bàn ghế làm việc mang hình dáng đơn giản cũng tạo nên không khí thanh lịch không kém phần sang trọng mà đa số các văn phòng làm việc đều hướng đến



Nội thất của các căn hộ ở khu tập thể khu Đại học Hà Nội (thiết kế bởi nhóm kiến trúc sư Nhật) tràn ngập ánh sáng trên một tông nền trắng. Các đồ đạc trang trí được lựa chọn cẩn thận nhằm đạt được hiệu quả trang trí cao nhất – Ảnh: Tạp chí kiến trúc JA-winter

Không chỉ là một phong cách trang trí nội thất và kiến trúc, minimalism còn biểu hiện được phong cách sống của chủ nhân. Với phương châm loại bỏ những gì không cần thiết, phong cách này thật sự không thích hợp với những người thích sưu tầm và những người thích chi tiết, thích trang hoàng phức tạp, hay đơn giản hơn là những người không thích loại bỏ những tiểu tiết. Ngược lại, những người thích ngăn nắp, tự do và phóng khoáng thì tìm được trong phong cách này những gì mà họ tâm đắc nhất.
Người châu Âu sau một thời gian dài say mê với các chi tiết cầu kỳ, hoa văn phức tạp lại quay sang đi tìm cái đẹp trong sự đơn giản. Với nhịp độ cuộc sống ngày càng nhanh, tính cạnh tranh trong công việc ngày càng lớn và mật độ dân số ngày càng tăng, một không gian thoáng đãng, tràn ngập ánh sáng trở thành điều mà mọi người mơ ước. Đó có lẽ là lý do giải thích tại sao phong cách này lại đạt được ảnh hưởng và thành công lớn như thế trong trang trí nội thất nói riêng và thiết kế kiến trúc nói chung tại châu lục này.
Platon, nhà triết học Hy Lạp cổ đại nổi tiếng đã nói: “Cái đẹp của phong cách, của sự hài hoà, của sự duyên dáng và nhịp nhàng phụ thuộc vào sự đơn giản”. Người viết tin rằng khi bạn đứng trong một không gian nội thất được thiết kế tốt theo phong cách minimalism bạn sẽ cảm nhận được điều này một cách rõ ràng nhất.
Theo KTS NGÔ CAO NGỌC ANH – Kiến trúc&Đời sống
(*) Phương châm thiết kế của KTS người Đức Ludwig Mies Van Der Rohe, người khởi xướng nên trường phái minimalism.
 http://diaoc.tuoitre.vn/
Một ngôi nhà được xây mới hoàn toàn trên một khu phố hiện đại của thủ đô Argentina, Buenos Aires. Sẽ không có gì ngạc nhiên khi bạn tìm được rất nhiều điểm tương đồng giữa căn nhà này với những ngôi nhà ở khu đô thị mới của Hà Nội. Cũng với khí hậu nhiệt đới, không gian mở để đón gió và ánh sáng ngập tràn.
NTO - Ngôi nhà theo phong cách tối giản
Chủ nhân của ngôi nhà, cặp vợ chồng nghệ sĩ trẻ, đã lựa chọn phong cách tối giản (minimalism) cho ngôi nhà của mình, một điều cũng dễ hiểu vì phong cách này được giới trẻ, đặc biệt là giới trẻ của những nước đang phát triển tôn sùng vì những nét đẹp mạnh mẽ, hiện đại của nó. Những cánh cửa kính lớn lặp lại trong tất cả các căn phòng của ngôi nhà, một phần có được là nhờ an ninh tốt của cả khu vực.
NTO - Ngôi nhà theo phong cách tối giản
Những cánh cửa kính lớn từ cả hai phía khiến cho phòng khách hầu như cần rất ít đến ánh sáng nhân tạo suốt cả ngày, cả khu thư phòng kiêm phòng làm việc phía trong cũng thế. Có được điều này một phần cũng còn nhờ đến không gian thoáng đãng xung quanh, một phần còn thiếu ở nhà phố tại các khu đô thị mới của Hà Nội. Điểm nhấn của phòng khách không phải là bộ sofa khung inox hiện đại mà là bức tường gạch mộc bên cạnh.
Bằng việc tích hợp một chiếc lò sưởi hiện đại xinh xắn và một mảng tường trắng dùng gắn LCD (thiết bị nghe nhìn này hiện vẫn còn chờ đầu tư tiếp), bức tường trông như một bức tranh ấn tượng khổ lớn chỉ với hai màu tương phản đen và trắng. Bộ sofa với gam màu ấm cúng như muốn mang lại sự bình yên cho căn phòng sinh hoạt chính của ngôi nhà.
NTO - Ngôi nhà theo phong cách tối giản
Không gian khu làm việc được liên thông với phòng khách, chỉ được ngăn ước lệ bằng một chiếc tủ thấp cùng với một chiếc một chiếc bình phong đơn giản bằng lưới. Một không gian hiện đại với ánh sáng luôn ngập tràn sẽ là nguồn cảm hứng cho những sáng tác của người nghệ sĩ trẻ. Phòng ngủ được chủ nhân thể hiện cá tính qua những tác phẩm nghệ thuật độc đáo phía đầu giường, còn phòng tắm được nới rộng không gian bằng thủ pháp dùng gương để đánh lừa thị giác.
NTO - Ngôi nhà theo phong cách tối giản
Ngoài việc thông thoáng và sáng sủa như những phòng khác trong nhà, căn bếp này còn tạo được sự chú ý nhờ vào sự đặc biệt của sàn nhà. Làm bằng lọai đá granito đặc biệt với những viên sỏi tròn trắng xen với nền đen tương phản, thêm một kiệt tác nghệ thuật nữa cho một căn nhà vốn đã có đầy những tác phẩm độc đáo. Nối giữa phòng khách và nhà bếp là một kiệt tác tuyệt vời của sự kết hợp giữa thiên nhiên và bàn tay sáng tạo của con người: một vườn cây nằm giữa nhà được che bốn bên bằng vách kính. Một terrarium độc đáo bởi những chiếc cây trong đó hoàn toàn là cây tự nhiên, được trồng xuống đất nền chứ không phải trong chậu.
Thông tin địa danh:
Địa chỉ: Argentina
(NTO.vn tổng hợp)
Thông báo 20.10.02


Bàn tròn Talawas "Mỹ thuật Việt Nam đang ở đâu?"


Song song với diễn đàn "Mỹ thuật hiện đại Việt Nam đang ở đâu?"đang chạy trên Talawas, chúng tôi tổ chức một thảo luận bàn tròn với sự tham gia của các nhà nghiên cứu, phê bình, nghệ sĩ và kinh doanh trong và ngoài nước để tiếp tục soi sáng những khía cạnh khác nhau xung quanh chủ đề này. Sau đây, Talawas xin trân trọng giới thiệu các thành viên bàn tròn:

Đào Mai Trang (Việt Nam), * 1976
Biên tập viên phụ trách Mỹ thuật đương đại của tạp chí Văn hoá-Nghệ thuật, Hà Nội. Tốt nghiệp ngành Báo chí Đại học Quốc gia Hà Nội.

Hoàng Ngọc-Tuấn (Úc)
Nhạc sĩ, nhà nghiên cứu văn học, âm nhạc, sân khấu và nghệ thuật tạo hình. Tuyển chọn, tổ chức và giới thiệu các triển lãm nhiếp ảnh, hội hoạ và điêu khắc tại Sydney, Úc. Viết và công bố một số tiểu luận nghiên cứu và phê bình về nghệ thuật tạo hình.

Hussfeld, Birgit (Đức)
Thạc sĩ ngành nhân học, tốt nghiệp Trung Quốc học và Việt học, làm việc nhiều năm tại Việt Nam, là tác giả của nhiều bài viết về văn học và nghệ thuật Việt Nam đương đại và một cuốn sách về tranh áp phích Việt Nam.

Izu, Kaomi(Nhật), * 1960
Chuyên viên tư vấn phát triển thị trường mỹ thuật. Làm việc cho một số gallery tại Nhật và Mỹ.

Kraevskaia, Natalie (Nga, Việt Nam)
Tiến sĩ ngôn ngữ học. Nghiên cứu và phê bình mỹ thuật. Giám đốc phòng tranh Salon Natasha tại Hà Nội. Tổ chức các triển lãm mỹ thuật đương đại Việt Nam tại Việt Nam và nước ngoài. Viết bài cho các báo Asian Art News, Art Asia Pacific, Focas, etc.

Nguyên Hưng (Việt Nam), * 1962
Chuyên viết phê bình mỹ thuật trên "Sài Gòn Giải phóng thứ Báy".
Sách đã và sẽ xuất bản: "Hoạ sĩ, kẻ sáng tạo nên mình" (NXB Mỹ thuật, 2002); "Mỹ thuật Việt Nam ngày nay" (2003).
Website: www.hcm.fpt.vn/visualart

Nguyễn Đại Giang (Canada), * 1944
Họa sĩ. Tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội và Đại học Mỹ thuật Moscou. Từ 1992 định cư tại Mỹ, sau 7 năm tù tại Hà Nội do vượt biên. Sáng lập chủ nghĩa upsidedownism. Giải ba cuộc thi tranh quốc tế Seattle 1995; giải ba cuộc thi tranh quốc tế Thụy Điển "Những họa sĩ tài năng nhất" 1997; được đưa vào sách "500 founders of the 21st century" năm 2000. Danh hiệu "emerging artist" của vùng Tây Bắc Mỹ, 2001.

Nguyễn Như Huy (Việt Nam), * 1971
Hoạ sĩ. Tốt nghiệp trường Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh năm 1996. Một số triển lãm chung và cá nhân. Viết về mỹ thuật và phỏng vấn họa sĩ, đăng trên báo "Văn hoá và Thể thao".

Radulovic, Veronika (Đức)
Nghệ sĩ. Giảng viên được mời của DAAD (tổ chức trao đổi hàn lâm của Đức) tại trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội. Một số triển lãm chung tại Hà Nội. Tổ chức trao đổi các nghệ sĩ Đức sang Việt Nam.
Thiết kế triển lãm "Nghệ thuật sơn mài Việt Nam" tại Bảo tàng Nghệ thuật sơn mài Münster (1995). Đồng thiết kế triển lãm "Gặp Việt Nam", Berlin (1998). Các dự án với Viện Goethe, Hà Nội. Làm việc tại Singapore và Đại học Mỹ thuật Lahthi, Phần Lan.
Website: www.galeriekruse.de

Taylor, Nora (Mỹ)
Giáo sư lịch sử mỹ thuật Đông Nam Á. Ph.D của trường Đại học Cornell về hội họa Hà Nội 1925-1995. Dự án nghiên cứu hiện nay: "The Globalization of Vietnamese Art". Sắp xuất bản: "Painter in Hanoi: Colonial Subjects to Global Objects" (University of Hawaii Press, 2003).

Ngôn ngữ dùng trong bàn tròn là tiếng Việt và tiếng Anh, cả hai đều đuợc đăng trên trang của Talawas như thường lệ: ở cuối bản tiếng Việt có chỉ dẫn vào bản tiếng Anh.
Nhóm phiên dịch của bàn tròn gồm: Dương Tường, Đào Tuấn, Đinh Linh, Hoàng Ngọc-Tuấn, Lê Trọng Phương, Mai Chi, Nguyễn Đăng Thường, Tôn Thất Quỳnh Du, Trịnh Hữu Tuệ, Võ Tấn Phong sẽ giúp cho việc trao đổi giữa hai ngôn ngữ được hoàn toàn dễ dàng.

Người điều phối và dẫn chương trình: Mai Chi (Talawas).

Các tranh luận của bàn tròn sẽ được cập nhật thường xuyên trên Talawas để bạn đọc có thể theo dõi kịp thời. Các câu hỏi, ý kiến bổ xung, đóng góp từ phía bạn đọc (gửi tới địa chỉ tòa soạn), cũng sẽ được chúng tôi chuyển ngay tới các thành viên của bàn tròn. Như vậy, hy vọng chúng ta sẽ có được một sự trao đổi sinh động và phong phú giữa "diễn giả" và "cử tọa".

Chúc các bạn có nhiều lý thú với bàn tròn.
Talawas






(Bài được xếp theo thứ tự thời gian)

Mai Chi: Xin chào các anh chị đến với bàn tròn Talawas với chủ đề “Mỹ thuật hiện đại Việt Nam đang ở đâu?”. Chúng ta muốn xem xét và soi sáng những khía cạnh khác nhau liên quan tới mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Lịch sử, tiềm năng, những vấn đề, môi trường xã hội và chính trị, chính sách văn hoá, môi trường đào tạo và bảo trợ, hệ thống kinh doanh và bảo tàng v.v… Chữ “ở đâu?” trong tiêu đề của bàn tròn cũng hàm ý chúng ta đặc biệt nhìn mỹ thuật Việt Nam trong tương quan thế giới. Tôi hy vọng chúng ta sẽ có một tranh luận thẳng thắn và hữu ích.

Thành phần tham dự bàn tròn của chúng ta (xin xem thông tin gửi kèm), với sự cân bằng giữa người trong và ngoài nước, và sự có mặt của các giới khác nhau, theo tôi là lý tưởng. Có lẽ chỉ thiếu một cán bộ nhà nước làm bảo tàng hay chính sách văn hóa. Tuy nhiên, biết đâu người đó sẽ nằm trong số người đọc Talawas theo dõi bàn tròn này.

Tôi xin thử tìm điểm xuất phát bằng một nhận xét.
Trong những năm gần đây, sự hiện diện của các nghệ sĩ từ thế giới thứ ba trong phong cảnh bảo tàng và triển lãm quốc tế đã tăng lên đáng kể. Ví dụ cụ thể là tại triển lãm quốc tế documenta 11 ở Đức mùa hè vừa rồi (một trong những triển lãm lớn, quan trọng và uy tín nhất hiện nay), tới 45 trong số 115 nghệ sĩ được mời xuất thân ngoài châu Âu và Bắc Mỹ. Để so sánh: cách đây 5 năm, tại documenta 10, con số này là 20 trên 138. Tôi cho rằng ta không thể nói triển lãm này là “euro-centric”, là “vọng phương Tây” được nữa. Tuy nhiên, Việt Nam, ngoài chị Trần Thị Minh Hà, người Việt sống ở Mỹ, với hai nhật ký video, một ghi chép ở Nhật, và một ghi chép ở châu Phi, không có ai tham dự triển lãm này. Trong khi đó, một số nước có điều kiện xã hội chính trị cũng như môi trường mỹ thuật mà tôi cho rằng giống ta, như Cuba, hoặc còn bị khó khăn và cô lập với bên ngoài hơn nữa, như Iran, xuất hiện rất hùng hồn. Ta có thể lý giải thế nào về việc chúng ta không có những cá nhân xuất hiện trên scene quốc tế. Chúng ta thực sự chưa đủ đặc sắc để “đá ở champion league”, hay mỹ thuật Việt Nam, tuy mang nhiều bất ngờ trong mình, nhưng chưa gặp mốt, chưa được bộ máy mỹ thuật quốc tế phát hiện, và vì vậy, bị những người làm triển lãm (curator) bỏ rơi?
(18.10.02)

Nora Taylor: Các anh chị thân mến, trước hết tôi xin lỗi tôi dùng tiếng Anh để phát biểu. Tôi muốn bắt đầu đề cập tới những vấn đề mà Mai Chi đã nêu ra. Tôi sẽ đi Nhật một tuần từ ngày 22.10 và hy vọng sẽ nói được những điều muốn nói từ nay tới đó. Tôi sẽ thăm Bảo tàng Fukuoka để phục vụ đề tài nghiên cứu của tôi về mỹ thuật Việt Nam tại nước ngoài, vì vậy những câu hỏi của Mai Chi đặc biệt quan trọng đối với tôi. Trần Lương tham gia triển lãm Fukuoka Asia Pacific Triennial, do đó tôi một mặt đồng ý với Mai Chi, nhưng mặt khác không đồng ý rằng nghệ sĩ Việt Nam ít tham dự các triển lãm thế giới. Các ví dụ khác là Trương Tân tại Copenhagen Containers 1995, hay Vũ Dân Tân, Đặng Thị Khuê v.v… tại Brisbane Triennial.

Trong những công trình nghiên cứu của tôi, tôi đã chỉ trích giới mỹ thuật quốc tế bởi việc tiếp tục cô lập các nghệ sĩ châu Á và phân loại nghệ sĩ dựa theo màu da sắc tộc chứ không dựa vào bản chất nghệ sĩ của họ. Việt nam bị đẩy ra ngoài lề, và mặt khác “được” coi là đặc biệt và được thường xuyên nhắc đến khi nói tới những hình thể mỹ thuật “primitive”, “khác”. Khi bàn về mỹ thuật Việt Nam, giới mỹ thuật thế giới tiếp tục nuôi dưỡng cách nhìn rằng mỹ thuật Việt Nam là “truyền thống”, là “lạ”, và qua đó nhấn mạnh sức hấp dẫn của nó với khách du lịch và người nước ngoài khi đi tìm mỹ thuật “chân thực”. Tại Mỹ, mỗi khi có triển lãm mỹ thuật Việt Nam (điều này rất hiếm), báo chí và catalog thường chú ý đến đất nước Việt Nam hơn là những nghệ sĩ tham dự. Ví dụ, khi triển lãm “Winding River” được làm tại ba thành phố Mỹ, một số Việt Kiều biểu tình bởi họ coi những nghệ sĩ tham dự là cộng sản, mặc dù hầu hết các nghệ sĩ này đều không liên quan gì tới Đảng Cộng sản. Tương tự, các nhà báo thích đề cập tới chiến tranh Việt Nam hơn là cố gắng hiểu thông điệp của các nghệ sĩ. Các nghệ sĩ châu Á thường bị coi là “vô danh”. Họ trước hết là “người Việt”, sau đó mới là “nghệ sĩ”. Đây là một vấn đề. Một vấn đề cho những người xem mỹ thuật Việt Nam, cũng như cho những người sáng tác Việt Nam. Bởi nhiều nghệ sĩ Việt nam tiếp tục coi các sáng tác của họ trước hết là mang tính «Việt Nam », chứ không thể hiện những giá trị tổng quan. Chừng nào những nghệ sĩ Việt Nam tiếp tục nuôi dưỡng những cách nhìn mang tính dân tộc-quốc gia, thì chừng đó người xem quốc tế sẽ tiếp tục coi mỹ thuật Việt Nam trước hết là « Việt Nam », sau đó mới là « mỹ thuật ».
(19.10.02)

Veronika Radulovic: Đúng, chị Nora, chúng ta (người phương Tây – chú thích của Talawas) phân loại rất chóng váng và đơn giản. Và mỹ thuật dân gian du lịch là một sản phẩm dễ tiêu với chúng ta. Nhưng tôi không đồng ý với câu “chừng nào những nghệ sĩ Việt Nam tiếp tục nuôi dưỡng những cách nhìn mang tính dân tộc-quốc gia…”, bởi đây chính là vấn đề: những người làm triển lãm, những nhà sử học mỹ thuật, người sưu tầm và cuối cùng nhưng không kém quan trọng, bầy đoàn du lịch nhiều tiền đã tạo ra cái bức tranh không hay của mỹ thuật dân gian du lịch này. Bởi chúng ta là những kẻ đi săn lùng lưu niệm, với những vấn đề và những thèm muốn không được giải đáp của chúng ta. Nghệ sĩ mọi nơi đều muốn kiếm tiền và sống một cuộc sống dễ chịu. Đặc biệt các nghệ sĩ Việt Nam rất nhanh chóng nhận ra cách nhìn nhận mỹ thuật của Tây phương. Chị biết đấy, họ thực sự dễ thích ứng. Từ nhiều năm nay Việt Nam có một scene mỹ thuật đương đại mạnh mẽ và nhiều sức sống, nhưng đáng tiếc, giới mỹ thuật quốc tế chưa nhận ra.

Một câu hỏi khác, trước khi bắt đầu cuộc tranh luận của chúng ta: theo chị cái gì là giá trị quốc tế của mỹ thuật, nếu như không phải là cái gốc, cái nền tảng (background) quốc gia, văn hoá cũng như cá nhân?
(20.10.02)

Kaomi Izu: Trong hơn 10 năm qua, giới họa sĩ Việt Nam đi ra thế giới (triển lãm, sinh sống…), và giới họa sĩ, nghiên cứu, phê bình quốc tế đi vào Việt Nam (giao lưu, tìm hiểu…) không phải là ít. Tạp chí Asian Art News có vẻ như chỉ được xuất bản để tuyên truyền cho mỹ thuật Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, không có nhiều người, kể cả người Việt Nam, biết “mỹ thuật Việt Nam đang ở đâu?”. Tại sao?

Tôi đồng ý một phần với ý kiến của chị Nora Taylor về cách nhìn đầy thành kiến của giới mỹ thuật quốc tế về mỹ thuật Việt Nam. Đây dường như là căn bệnh chung của nhân loại. Ai cũng nhìn người khác bằng con mắt vừa cả tin vừa hết sức bảo thủ. Cách nhìn này mang tính loại trừ. Tất nhiên.

Nhưng, ngược lại, cũng cần phải thấy là mỹ thuật Việt Nam, tự nó, cũng chưa có gì đủ để làm cho người khác phải giật mình nghĩ lại. Trước hết, hệ thống thông tin, phê bình mỹ thuật ở Việt Nam quá nhập nhòe, nhập nhằng. Qua báo chí, sách vở, kể cả những gì trưng bày trong các bảo tàng mỹ thuật ở Việt Nam, người nước ngoài (cả người Việt Nam nữa), chắc chắn sẽ không có được một cách nhìn đúng về mỹ thuật Việt Nam. Thứ hai, trong thực tế, mỹ thuật Việt Nam, có những vùng được rọi sáng, nhưng cũng có những vùng phải chịu nằm trong bóng tối, khó được nhận biết. Vùng được rọi sáng, không chỉ bởi nằm trong mạch “chính thống” được sự bảo trợ của nhà nước mà còn bởi sự công nhận của số đông công chúng vốn rất ít hiểu biết về nghệ thuật và không thực sự có nhu cầu về nghệ thuật. Quan điểm “định hướng” với cách nhìn bình dân này là bộ lọc, khiến những gì ở trong bóng tối, cho dù “mạnh mẽ, đầy sức sống”, cũng phải chịu nằm mãi trong bóng tối. Mấy năm qua, họa sĩ Việt Nam được khuyến khích tham dự giải thưởng mỹ thuật Asian của tập đoàn Philip Morris. Nhưng càng ngày, càng có nhiều họa sĩ không muốn tham dự. Lý do: họ không tin là có thể vượt qua được cửa ải được xác lập bởi hội đồng nghệ thuật quốc gia. Vài người nước ngoài, vài tổ chức tài trợ nghệ thuật quốc tế hoạt động ở Việt Nam đã lần mò được vài họa sĩ ở trong bóng tối này, nhưng từ đó, nhiều khi, chỉ mô tả được những “cái chân”, “cái vòi”…chứ không phải “con voi”. Thứ ba, là bởi những hạn chế nơi số đông họa sĩ. Tôi không đồng tình với ý kiến cho rằng “không phải nhà nước, không phải hội nghệ sĩ mà chính những người ngoại quốc sai khiến các họa sĩ nên vẽ cái gì…” của chị Natalia Kraevskaia (trong bài viết đã đăng trên talawas), và với ý kiến gần gần như vậy của chị Veronika Radulovic ở trên. Không nên đổ lỗi cho người nước ngoài. Họa sĩ mà dễ bị “sai khiến”, dễ bị “tha hóa” như vậy, thì còn gì là họa sĩ nữa. Cần nói thẳng, và rõ, là do số đông họa sĩ Việt Nam yếu kém. Ở đây, đang có sự khủng hoảng ý thức về nghệ thuật. Thậm chí, là đang có sự khủng hoảng về nhân cách nói chung. Không phải họa sĩ Việt Nam “chết” trong “cái nhìn mang tính dân tộc-quốc gia” như chị Nora Taylor nói, mà “chết” trong cái bẫy tượng trưng chủ nghĩa tự tạo với các ngộ nhận về cái “văn hóa làng” độc đáo của mình. Nó giả dối, tự lừa phỉnh, tự ru ngủ. Nó không lột tả cuộc sống Việt Nam. Nó không mang lại cách nhìn mới. Nó gần với cái giả hình…

Mỹ thuật Việt Nam để tự biết mình “đang ở đâu?”, và để tự xác định vị trí của mình trên bản đồ nghệ thuật thế giới cần phải có một cuộc đại phẫu thuật. Tôi đồng ý với Nguyên Hưng: mỹ thuật Việt Nam sẽ “không có gì nếu không có phê bình” (bài Nguyên Hưng đã đăng trên talawas)
(21.10.02)

Nora Taylor: Xin cảm ơn chị đã chia sẻ, Veronika. Tôi đồng ý với chị. Tôi không ngụ ý rằng nghệ sĩ bám theo cái nhãn mác nghệ thuật “du lịch” bởi họ tạo ra những sản phẩm xoàng xĩnh, hay bởi họ chiều theo nhu cầu thị trường. Dĩ nhiên nghệ sĩ thì cũng phải kiếm sống và tôi không bao giờ đánh giá rằng những người khá giả từ công việc nghệ thuật thì tinh thần đạo đức hay nghề nghiệp của họ lại thấp kém hơn những người làm nghệ thuật không vì mục đích tiền bạc. Ở Việt Nam, có một số vấn đề nảy sinh từ những đồng tiền của nước ngoài chảy vào thị trường nội địa, nhưng theo tôi điều này cho thấy uy tín của các hoạ sĩ và thị trường nghệ thuật trong nước đã có thành công. Tuy nhiên, tôi không đồng tình với việc cộng đồng quốc tế, khi bàn luận về nghệ thuật Việt Nam lại nói đến hai chữ “Việt Nam” đầu tiên chứ không phải là những điều cá nhân hơn về bản thân các nghệ sĩ. Chị nhận định đúng rằng văn hoá dân tộc là rất quan trọng, nhưng thực sự là có vấn đề nếu những nhà phê bình mỹ thuật hay những nhà sưu tập nói đến mỹ thuật Việt Nam chỉ đơn giản vì nó là của Việt Nam. Bản thân tôi không hề muốn những tác phẩm, những công trình nghiên cứu hay thậm chí cá nhân tôi bị bó hẹp trong tính dân tộc của mình nên tôi hình dung rằng những hoạ sĩ Việt Nam cũng nghĩ như vậy.
(22.10.02)

Natalie Kraevskaia: Thứ nhất, nếu chúng ta lấy Dokumenta làm cơ sở so sánh, thì liệu có nhiều nghệ sĩ Việt Nam, hay liệu có nghệ sĩ Việt Nam nào có tác phẩm có tầm cỡ Dokumenta không? Tôi nghĩ Nora nói đúng: việc nuối kéo các ý tưởng về chủng tộc và dân tộc kìm hãm tính sáng tạo của họ. Thứ nghệ thuật trong những cuộc trưng bày như Dokumenta phần lớn đả động đến những ý tưởng và khái niệm có tính toàn cầu, và những vấn đề địa phương, nếu có, được đặt trong mối liên quan đến bối cảnh toàn cầu nên hấp dẫn được công chúng trên khắp thế giới. Trong nghệ thuật đương đại Việt Nam, khái niệm về tính dân tộc và về cái đẹp lan tràn và bó hẹp tầm nhìn của người nghệ sĩ.
Câu hỏi Veronika đưa ra về giá trị quốc tế của nghệ thuật rất phức tạp, nhưng như chính chị đã nói, có vài yếu tố: văn hoá, cá nhân – không chỉ dân tộc.

Thứ hai, tại sao ta đưa ra câu hỏi «chúng ta có thực sự có những cá nhân xuất hiện trên giới nghệ thuật quốc tế không»? Có, chúng ta có một vài cá nhân như vậy. Nhưng ai ở Việt Nam biết đến họ và ai thèm quan tâm? Vài người bạn ít ỏi trong đám nghệ sĩ ư? Thành công của họ bị ỉm đi, không được báo chí nhắc đến, không được đề thưởng. Sự có mặt của họ trong số những sự kiện nghệ thuật quan trọng không được cảm kích, bởi cả cộng đồng nghệ thuật (nói chung) lẫn bộ máy hành chính của nền nghệ thuật đều không đánh giá được tầm cỡ của những cuộc triển lãm. Đối với phần lớn nghệ sĩ và cán bộ Bộ Văn hoá, Dokumenta hay các cuộc trưng bày nhỏ của các phòng trà Paris đều gần như nhau vì đều là «ngoại quốc» cả.

Thứ ba, kể cả khi có những nghệ sĩ được mời đến những cuộc triển lãm lớn của châu Á, tại sao sau đó chỉ có một số ít xuất hiện trên cộng đồng quốc tế. Chúng ta có thể nhắc lại kết luận của Nora ở đây. Ai trong số họ bước qua được ngưỡng cửa dân tộc? Tôi chỉ có thể đưa ra tên 2 – 3 người đã không đào bới cái «chất Việt Nam» của họ và không xây dựng sự nghiệp của mình trên những chủ đề mang tính dân tộc.

Thứ tư, những người bảo trợ quốc tế thì sao, ít ai trong số họ đến Việt Nam để tìm tài năng địa phương. Nền nghệ thuật Việt Nam đã mang tiếng xấu là chỉ biết làm tiền nên chắc là họ đã định trước là sẽ không thể tìm được gì hay và mới ở đây.
(22.10.02)

Nguyễn Như Huy: Ðể khỏi mất thời gian, tôi xin đi ngay vào vấn đề.
Là một họa sỹ hiện vẫn đang làm việc, tôi có vài nhận định chủ quan thế này.
Theo tôi, cái thiếu của mỹ thuật Việt Nam hiện nay chính là việc nó không được nhìn nhận và thao tác bằng ngôn ngữ của chính nó. Có thể nói rằng việc làm mỹ thuật bằng ngôn ngữ của mỹ thuật cũng như việc thưởng thức mỹ thuật bằng chính ngôn ngữ của nó là một điều tối quan trọng với cả nghệ sỹ lẫn công chúng. Nghệ sỹ cần hiểu rõ cái ngôn ngữ mà mình đang thao tác để có thể không phí phạm vật liệu hay cảm xúc mà vẫn nói được điều muốn nói một cách đơn giản nhất. Công chúng cần hiểu được ngôn ngữ của cái mà họ thưởng thức để có thể nhận được thông tin mà tác phẩm (dưới bất cứ hình thức gì) muốn nói.
Sự cách tân của loại hình nghệ thuật nào đó, tất yếu phải là sự cách tân về ngôn ngữ của loại hình nghệ thuật đó. Và tương tự, sự thụt lùi của loại hình nghệ thuật nào đó, cũng tất yếu là do sự lạc hậu về ngôn ngữ của loại hình nghệ thuật đó. Chẳng khác gì một người nông dân phải hiểu về thời tiết, mùa màng hoặc con trâu hay cái cầy của mình, người nghệ sỹ cũng phải hiểu phương tiện, đối tượng mà mình thao tác y như vậy. (tôi xin lỗi những ai không muốn lấy cái thí dụ về nông dân này để so sánh với nghệ sỹ, đây chỉ là sự tình cờ).

Sự thao tác (làm và thưởng thức) mỹ thuật không bằng ngôn ngữ của chính nó tạo ra một môi trường mỹ thuật không chuyên nghiệp và tạo ra những giá trị giả, những vấn đề giả và tất yếu sẽ dẫn đến những giải pháp giả.
Chỉ có một cái nhìn vào bên trong, cái nhìn vào sự phát triển của ngôn ngữ nghệ thuật mới giúp các nghệ sỹ tìm ra giải pháp để thúc đẩy nghệ thuật của mình và giúp các nhà phê bình hay công chúng nhận diện đúng được cái đối tượng hay vấn đề mà họ muốn tìm hiểu.

Tôi có cảm giác rằng - qua mấy bài viết của các anh chị phê bình trong bàn tròn này - qua những thất vọng và hy vọng của các anh chị - vấn đề cốt tử của mỹ thuật Việt Nam hiện nay vẫn chưa được chạm tới.
(22.10.02)

Veronika Radulovic: Cám ơn Nora, và cũng xin lỗi là tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ của tôi, mà tôi lại muốn trả lời càng nhanh càng tốt. Hy vọng là mọi điều sẽ rõ ràng. Đúng, trước hết Việt Nam bắt đầu sự cởi mở về chính trị, và sau đó người ngoại quốc nhìn ra là ở đây có một scene mỹ thuật. Điều này có thể giải thích cái nhìn mang tính chính trị và quốc gia của chúng ta khi nói về mỹ thuật Việt Nam chăng? Mọi thứ đều có nhiều mặt và phức tạp. Tôi nhớ lại lúc Hungary hoặc Liên Xô mở cửa. Lúc đó có nhiều mỹ thuật Hungary và mỹ thuật Glasnost của Liên Xô và gì gì nữa. Tên tuổi của các nghệ sĩ này hầu như đã bị lãng quên. Ngày nay, miêu tả Kabakov là một họa sĩ Nga nghe sẽ thật kỳ cục. Và có khi nào chúng ta nói Picasso là một họa sĩ Tây Ban Nha?
Còn ở Việt Nam? Ngay cả trong buổi thảo luận ngắn này, chúng ta cũng ít nêu lên tên tuổi của các nghệ sĩ, những cá tính, cái độc đáo, những cách tân. Chúng ta chủ yếu nói về một đám đông của những cá nhân gọi là nghệ sĩ Việt Nam, mà không phân biệt.

Anh Kaomi, anh đề cập đến Philip Morris. Tuy nhiên, anh có tin rằng giải thưởng này được coi trọng không, và không lẽ các họa sĩ Việt Nam không thấy sự khác nhau giữa những cuộc triển lãm do các curators tổ chức và những chiến dịch quảng cáo sao? Dĩ nhiên điều này có thể là đề tài cho một cuộc thảo luận thú vị. Có nhiều nhận xét tiếu lâm và chê bai ngay cả trong những sinh viên đại học mỹ thuật Hà Nội về giải thưởng này. Đối với một số họa sĩ nó là một thử thách, vài họa sĩ tham gia, vài người không tham gia. Nhưng không phải do lo ngại cửa ải quốc gia. Mục đích của giải thưởng này rất rõ ràng. Mọi người đều biết cả. Và anh cũng không cần phải giải thích cho các nghệ sĩ Việt Nam bóng đèn điện hoạt động như thế nào. Họ có đủ đầu óc phê phán và phân tích.
(23.10.02)

Mai Chi: Tới giờ một loạt các vấn đề quan trọng đã được nêu lên. Chúng ta sẽ lần lượt bàn cụ thể tới những vấn đề này trong qua trình thảo luận. Đặc biệt, tôi hy vọng rằng nhữnh đánh giá thẳng thắn của chị Natasha và anh Kaomi về chất lượng và nhân cách của nghệ sĩ Việt Nam sẽ tạo ra một trao đổi sôi động và lý thú.

Mặc dù vẫn dùng cụm từ “mỹ thuật Việt Nam”, tôi muốn nhận xét rằng với tôi, cái gọi là “mỹ thuật Việt Nam” không có một ranh giới rõ ràng. Ai làm nên mỹ thuật Việt Nam? Những nghệ sĩ sống ở nước ngoài, như chị Trần Thị Minh Hà ở ví dụ trước, hay anh Nguyễn Đại Giang, khách bàn tròn của chúng ta, có đóng góp cho mỹ thuật Việt Nam không? Mặt khác, những nghệ sĩ nước ngoài sống và làm việc ở Việt Nam có thuộc về mỹ thuật Việt Nam không? Tôi nhớ có lần thăm một triển lãm về mỹ thuật hiện đại Mexico, trong đó một phần tư số nghệ sĩ tham dự là người nước ngoài sống ở Mexico.

Chị Natasha có nêu khái niệm “Vietnameseness” hay “chất Việt Nam”. Tôi nghĩ chúng ta nên dừng một chút để xem xét kỹ hơn về khái niệm này. Khái niệm này được sử dụng bởi nhiều người và nhóm người ở Việt Nam, nên tôi cho rằng có những cách hiểu khác nhau về ý nghĩa của nó. Có lẽ chúng ta nên cụ thể hơn và định nghĩa “Việt Nam tính” trong bối cảnh của chúng ta là gì. Và tại sao dùng những “chủ đề Việt Nam” lại làm cản trở sự sáng tạo những tác phẩm có chất lượng. Liệu nó có liên quan gì tới cái tư duy “văn hoá làng” mà Kaomi đã nói đến không. Tôi nghĩ những câu hỏi này cũng liên quan tới câu hỏi về “giá trị quốc tế”, hay “giá trị tổng quan” như chữ dùng của chị Nora, của mỹ thuật.

Hy vọng mọi người trên bàn tròn, đặc biệt các anh chị người Việt, chia sẻ những suy nghĩ của mình về vấn đề này.
(23.10.02)

Birgit Hussfeld: Mai Chi, tại sao việc xác định chính xác cái gì được xem là mỹ thuật Việt Nam lại quan trọng đối với bạn đến thế? Chẳng hạn chị Trịnh Thị Minh Hà, được nhìn nhận như một họa sĩ, một nhà văn và một nhà làm phim nếu dựa trên các tác phẩm của chị ấy. Chị ấy tình cờ là một người gốc Việt. Con người quá khứ của chị khi ở Việt Nam và với tư cách một người nhập cư tại Mỹ đều đã để lại dấu ấn trong tác phẩm, cũng như nhiều cái khác nữa. Tại sao ta không dừng lại ở đấy? Tại sao cần phải có ai đó quan tâm đến việc phân loại tác phẩm của chị ấy xem có “tính Việt nam” hay có “chất Mỹ”. Tôi đã mệt mỏi với câu hỏi này. Khi tôi sống ở Hà Nội và viết về mỹ thuật Việt Nam ở đấy, nhiều họa sĩ đã nói về “tính dân tộc” như một mối quan tâm chính trong tác phẩm của họ. “Tính dân tộc” đã được nhắc đến không ngớt trong phê bình mỹ thuật Việt Nam. Tôi không thể tin được rằng điều đó lại là mối bận tâm lớn đến thế của các hoạ sĩ Việt nam nhằm tạo ra một thứ mỹ thuật dân tộc. Có thể đơn thuần là họ thiếu ngôn ngữ để diễn đạt và đánh giá mỹ thuật trên những bình diện khác nhau.

Có thể tôi đã sai, ý kiến của bạn đã gợi mở rằng điều đó là một mối quan tâm lớn. Nếu vậy thì trong trường hợp này, dù gì đi chăng nữa, người ta cũng buộc phải nói rằng ở Việt nam hội hoạ đang thực hiện vai trò tạo nên một nét đặc trưng nào đó của dân tộc. Cũng có thể ở đây có một nhu cầu chân thành nào đó nhằm thay thế cho thứ chủ nghĩa tượng trưng được nhà nước thừa nhận bằng một cái gì đó khác. Cứ giả sử rằng đó là những con trâu, ruộng lúa, sự lãng mạn thôn quê hay gì đi chăng nữa… Tuy nhiên, nếu mỹ thuật chỉ làm vậy thôi thì nó sẽ không thú vị gì cả đối với bất cứ một ai sống bên ngoài biên giới Việt Nam. Tại sao các vị tổ chức trưng bày (curators) mỹ thuật thế giới cần phải quan tâm nhu cầu mang tính địa phương và đặc trưng của tầng lớp trung lưu ở thành thị, một số du khách đến Việt Nam và cuối cùng, của Việt kiều ở hải ngoại? Cùng lúc đó, có biết bao họa sĩ khác đã lấy “tính Việt Nam” như một cái có sẵn, như thực tế hiển nhiên và tiếp tục sáng tác mà không bị ám ảnh bởi nó. Xin anh đừng hiểu sai ý tôi. Tôi không nghĩ rằng các “đề tài Việt Nam” tự chúng là một trở ngại để tạo ra một thứ nghệ thuật có giá trị, nhưng đề tài Việt Nam là gì vậy? Hãy lấy Kabakov (chỉ vì chị Veronika vừa nhắc nhở đến ông này). Ông ta đã đến với người xem trên thế giới như một “họa sĩ Nga hay một họa sĩ của phong trào Glasnost”. Giờ đây ông đã thuộc về “Champions League”, để dùng lại thuật ngữ của anh, và không ai coi ông ta như là một người Nga nữa. Tuy vậy, tác phẩm của ông ta vẫn bộc lộ rõ cuộc sống của gần suốt cuộc đời ông ta trong một căn hộ ở Matxcova. (Sự ám ảnh của ông ta với những con ruồi và bụi bặm, chẳng hạn). Câu hỏi đặt ra là các họa sĩ tiếp cận tác phẩm của họ như THẾ NÀO, họ dựa vào những khuôn mẫu sáo rỗng, cố gắng bóc trần chúng, hoặc là hay hơn cả - chẳng quan tâm gì tới chúng.
(24.10.02)

Hoàng Ngọc-Tuấn: Tôi chẳng ngạc nhiên chút nào trước sự kiện mỹ thuật Việt Nam bị đối xử bất công bởi "thế giới mỹ thuật quốc tế" (hay có lẽ đúng hơn, thế giới mỹ thuật dĩ Âu vi trung). Mỹ thuật Việt Nam sẽ vẫn tồn tại trên "ngoại biên" cho đến chừng nào nó có khả năng thực sự viết lại đôi phần "lịch sử mỹ thuật quốc tế" để bao gồm chính nó vào đó.

Trong gần 20 năm qua, tôi đã chứng kiến thế giới mỹ thuật Úc da trắng đối xử với mỹ thuật thổ dân Úc như thế nào. Tôi nghĩ Salman Rushdie nhận xét rất đúng đắn rằng lịch sử chẳng qua chỉ là một bản ghi chép "cuộc phỏng vấn kẻ thắng". Mỹ thuật thổ dân Úc (gồm cả tác phẩm cổ truyền lẫn đương đại) đã từng bị xem như những thứ thuộc về những kẻ ngoại cuộc, những kẻ bên lề, mãi cho đến cuối những năm 1980, khi việc viết lại lịch sử đã trở thành một trào lưu phổ cập trong bối cảnh hậu thuộc địa, hậu hiện đại. Trước khi thổ dân Úc có thể viết lại đôi phần của lịch sử "chính thức" của nước Úc, hầu hết tác phẩm của nghệ sĩ thổ dân Úc đương đại, bất kể có độc sáng đến đâu chăng nữa, đã chủ yếu bị đối xử như những vật thể từ một thế giới "sơ khai" chỉ có khả năng phục vụ để làm thoả mãn thói ưa dị lãm hay óc tò mò văn hoá tầm phào của khách du lịch.

Ðến cuối những năm 1980, mỹ thuật thổ dân Úc đã bắt trớn và đạt nhiều thành công chưa từng có trước đó. Tuy vậy, cho đến giữa những năm 1990, chỉ vài tên tuổi có thể "rỉ" qua khỏi biên giới quốc gia: Clifford Possum Tjapaltjarri, Rover Thomas, Abie Jangala, Ginger Riley Munduwalawala, và các nữ nghệ sĩ Queenie McKenzie and Emily Kame Kngwarreye.

Lần đầu tiên nghệ sĩ thổ dân Úc được có tác phẩm của mình đặt vào bối cảnh "mỹ thuật quốc tế" đương đại là cách đây chỉ mới 5 năm, vào năm 1997, tại Venice Biennale lần thứ 47, nơi hoạ phẩm của Emily Kame Kngwarreye và Judy Watson, cùng với những bức dệt của Yvonne Koolmatrie (theo phong cách cổ truyền Ngarrindjeri), được treo ở gian trưng bày của Úc. Một điều không kém thú vị khác là trong số ba người phụ trách chọn tranh tại Venice Biennale lần thứ 47, hai người là thổ dân (Hetti Perkins và Brenda L. Croft), Úc trắng chỉ có một người (Victoria Lynn).

Chứng kiến những điều đó, tôi nghĩ rằng mỹ thuật Việt Nam chỉ có thể trở thành "quốc tế" nếu nghệ sĩ Việt Nam có khả năng viết lại đôi phần "lịch sử mỹ thuật quốc tế". Tất nhiên, chúng ta đã thấy có một số nghệ sĩ Việt Nam, ở những cấp độ khác nhau, và qua những đường lối khác nhau, đã có thể viết lại một chút xíu cái "lịch sử" đó để bao gồm chính mình trong đó, và làm chính mình xuất hiện trước con mắt "quốc tế".

Thử nêu trường hợp T. Minh-ha Trinh (Trịnh Thị Minh-hà), chẳng hạn. (Nhân tiện, tôi xin nhắc Mai Chi rằng nghệ sĩ Việt kiều Mỹ này mang họ Trịnh, chứ không phải họ Trần).

Tại đại hội mỹ thuật "Documenta 11", ở Kassel, Ðức quốc, chị Minh-hà đã giới thiệu 3 tác phẩm (chứ không phải 2, Mai Chi):
1/ Surname Viet Given Name Nam (1989), về bản sắc và văn hoá qua cuộc tranh đấu của phụ nữ Việt Nam; dài 108 phút; ngôn ngữ: Việt và Anh, có thêm phụ đề. Phim này được chiếu 15 lần trong đại hội.
2/ Shoot for the Contents (1991), về văn hoá, nghệ thuật, và chính trị ở Trung quốc; 102 phút; tiếng Anh. Phim này được chiếu 7 lần, cùng với phim sau đây:
3/ Reassemblage (1982), về việc quay phim ở nông thôn Senegal, và là một cuộc phê bình về cái Tôi/cái Nhìn nhân chủng; 40 phút; tiếng Anh.

Như chúng ta thấy, trong 3 tác phẩm nêu trên của chị Minh-hà, Surname Viet Given Name Nam (Họ Việt Tên Nam) là tác phẩm dài nhất và quan trọng nhất. Và nó nói về bản sắc chủng tộc và văn hoá qua cuộc đấu tranh của phụ nữ Việt Nam. Ở đây, chị Minh-hà không chỉ lấy "tính Việt Nam" làm đề tài, mà còn lấy cả "tính phụ nữ". Làm thế, dường như chị nhân gấp đôi cái vị thế ngoại biên của mình. Nhưng chẳng hề gì: chị được cộng đồng mỹ thuật quốc tế công nhận như một nghệ sĩ thay vì như một "người Việt Nam" hay "một phụ nữ". Làm thế nào chị Minh-hà đạt được sự công nhận ấy? Chị đạt được nó vì những ý tưởng "là người Việt Nam" và "là đàn bà", dù được chị trình bày thẳng thắng và thường xuyên, đã chỉ tồn tại như những đề tài trong nghệ thuật của chị và đã không che khuất cái độc đáo của nghệ thuật của chị. Chúng ta hãy đọc xem một phê bình gia Mỹ đã viết thể nào về chị Minh-hà:

"Với những tác phẩm điện ảnh độc đáo và được dàn dựng đẹp đẽ của chị, Trịnh T. Minh-hà quả là một nhà thơ trữ tình hàng đầu, một kiến giả và tư tưởng gia giàu tưởng tượng. Nghệ thuật của chị lật đổ những phương thức điện ảnh tự sự từ gốc rễ, bằng cách triệu dẫn rồi tái khám phá những công cụ của nhà nhân chủng học, của nhà thơ và nhân chứng chính trị, của nhà mỹ thuật và nhà soạn nhạc" (nhận định của Steve Dickison, từ Poetry Center).

Không có một chữ nào về chị Minh-hà như một "phụ nữ Việt Nam". Mọi chữ đều viết về nghệ thuật của chị, và về chị như một nghệ sĩ.

Và chính ở điểm này mà tôi không đồng ý với một ý tưởng của Nora:

"Chừng nào nghệ sĩ [Việt Nam] còn tiếp tục nuôi dưỡng những ý tưởng mang tính dân tộc-quốc gia, thì chừng đó khách thưởng lãm ở Mỹ và những nước khác sẽ tiếp tục xem mỹ thuật Việt Nam là «Việt Nam» thay vì chỉ đơn thuần là «mỹ thuật»."

Hãy thử lật ngược ý tưởng này:

"Chừng nào nghệ sĩ Hoa Kỳ còn tiếp tục nuôi dưỡng những ý tưởng mang tính dân tộc-quốc gia, thì chừng đó khách thưởng lãm ở Việt Nam và những nước khác sẽ tiếp tục xem mỹ thuật Hoa Kỳ là «Hoa Kỳ» hơn chỉ đơn thuần là «mỹ thuật»."

Chúng ta cảm thấy thế nào? Ý tưởng nói lật ngược nghe cứ như một câu nói đùa, phải không? Bởi, hiển nhiên (và chua chát thay!), chữ "Hoa Kỳ" đã được "lịch sử" đương đại định nghĩa là mang tính "quốc tế", "hoàn cầu", "phổ quát", còn chữ "Việt Nam" thì chỉ mang tính "địa phương". Lịch sử đương đại là "cuộc phỏng vấn người Mỹ" cơ mà? (xin nhái lời Rushdie)
(24.10.02)

Nguồn: nguhu

http://www.mediafire.com/?482z827o4yjxz49
Dĩ nhiên bạn đã thấy đâu đó trên các website một số hình ảnh nghệ thuật sử dụng kỹ thuật X-ray (chụp X quang), nhưng bộ ảnh hoa lá này sẽ cho bạn những trải nghiệm lạ lẩm, những bông hoa rực rở, những chiếc lá xanh ngắt như bổng chốc hóa thành những cành hoa lá khô thường được các cô học trò ép vào trong vở, khám phá vẻ đẹp đơn giản mong manh của các cánh hoa qua kỹ thuật chụp X-ray làm cho người xem thích thú. Sự mộc mạc của các đường nét của những cấu trúc tự nhiên có lẻ là vẻ đẹp hoàn hảo nhất.

X-rayed flowers

 

Judith Collins – Phạm Long biên dịch – Đào Châu Hải hiệu đính
[Trích dịch từ chương 18: Minimalism của cuốn sách Sculpture Today, Phaidon, 2007]
Tác phẩm “Two Open Modular Cubes/Half-Off” của Sol-LeWitt
Thế nào là “Các cấu trúc cơ bản”? Từ điển định nghĩa chúng như là các bộ phận hoặc kết cấu [có tính năng tạo dựng] cơ sở, nền tảng, thiết yếu. Cụm từ này cũng là tên một triển lãm của các điêu khắc gia trẻ tuổi Anh – Mỹ tại Bảo tàng Do Thái, New York, vào tháng 4. 1966 với curator Kynaston McShine – được coi là triển lãm đầu tiên xác lập những tham số cơ bản của nghệ thuật Tối giản.
Thuật ngữ Nghệ thuật Tối giản (Minimal Art) xuất hiện hai lần vào năm 1965: trước hết trong một bài viết cùng tên của triết gia người Anh Richard Wollheim đăng trên Arts Magazine (Tạp chí Nghệ thuật) số tháng Giêng, và sau đó, trong tiểu luận của phê bình gia Hoa Kỳ Barbara Rose nhan đề ABC Nghệ thuật trong tạp chí Art in America (Nghệ thuật Mỹ) vào tháng 11. 1965. Rose mô tả những gì bà thấy giống như “một cảm thức mới đang trỗi dậy” trong giới họa sĩ và điêu khắc gia trẻ tuổi New York, chẳng hạn Frank Stella, Anne Truitt, Richard Tuttle và Ronald Bladen với những đặc trưng có “xu hướng rút gọn” và đặc tính “trống rỗng, nhàn nhạt, máy móc tới mức thiếu cá tính con người”; và bà tìm thấy nhiều tương đồng giữa chúng với tác phẩm Ô vuông Đen – Black Square của họa sĩ người Nga Kasimir Malevich (1913) hay các tác phẩm readymade của Duchamp.

Ô vuông Đen - Black Square của họa sĩ người Nga Kasimir Malevich
Năm 1965, trong một bài viết quan trọng với tiêu đề Các đối tượng cụ thể  in trên Kỷ yếu Nghệ thuật 8, Donald Judd tuyên bố rằng theo đánh giá cá nhân về nghệ thuật đương đại Mỹ, đa số “các tác phẩm mới đặc sắc nhất trong vài năm qua không phải là hội họa, cũng không phải điêu khắc”, song đúng là thứ có thể coi là “tác phẩm ba chiều” hay “đối tượng”. Khi thay thế các danh từ “hội họa” và “điêu khắc” bằng thuật ngữ “đối tượng”, Judd báo hiệu đã có sự cắt đứt với nghệ thuật truyền thống và xuất hiện điều gì đó thật mới mẻ – dù ông chưa định lượng được chúng. Theo Judd, một tác phẩm như Black Square của Malevich, dù có vẻ giản dị và trống trải, song đã quá tải với các nội dung cá nhân, xã hội, và chính trị chất chứa trong nó. Ông không chấp nhận thứ “chủ nghĩa ảo giác và không gian tầm thường – kiểu không gian nằm trong và/hoặc có các họa tiết hay màu sắc bao quanh” mà ông cho là “một trong những… di tích chướng tai gai mắt nhất của nghệ thuật Âu châu”.

Tác phẩm “Three Elements” của Ronald Bladen
Cho đến khi triển lãm Các cấu trúc cơ bản mở cửa tại New York mùa xuân năm 1966, các phê bình gia đã dùng rất nhiều thuật ngữ mới lạ để mô tả thứ nghệ thuật mới đang nảy nở tại thành phố này. Họ đã đề xuất nhiều thuật ngữ ngắn gọn như “Nghệ thuật khước trừ” (Rejective Art)” hoặc “Xu hướng trần trụi” (Literalism), nhưng được ưa chuộng nhất chính là cụm từ “Tối giản” (Minimal). Các học giả cũng cảnh báo rằng phải nên dùng hết sức thận trọng và tránh lạm dụng thuật ngữ này bởi vì “danh xưng” đó không hẳn thể hiện mục tiêu của nghệ thuật mới, mà nó được dùng nhiều phần lớn vì tiện lợi.

Robert Morris, Không đề, 1969
Tony Smith, Sol LeWitt, Carl Andre, Robert Morris, Dan FlavinDonald Judd thuộc hàng những nghệ sĩ Tối giản quan trọng nhất. Tất cả họ, tính đến năm 1966, đều đã tiết chế ngôn ngữ hình thức của mình thành những mẫu (dạng) hình học tinh giản, khiến cho chất liệu và quy trình [tạo dựng tác phẩm] bộc lộ tình trạng của nền sản xuất công nghiệp. Họ muốn lựa chọn các vật liệu công nghiệp thật giản dị tới mức tránh biểu cảm [lộ liễu], ví dụ như gạch, gỗ dán, nhôm, thép, kính gương, plexiglas, đèn chiếu sáng và sắt mạ kẽm.
Tác phẩm của Sol LeWitt
Thời hoàng kim của nghệ thuật Tối giản cho dù khá ngắn song đã kịp tạo dựng tiền đề vô cùng quan trọng cho những nghệ sĩ [muốn] theo đuổi xu hướng này. Nhiều dòng nghệ thuật đương đại vẫn đang dùng các vật liệu phổ biến cùng những quy trình [chế tác] công nghiệp, tạo nên những tác phẩm Tối giản mang hương vị lịch sử và nội dung tâm lý xã hội riêng. Ngày nay, vẫn có những nghệ sĩ chuộng lối tiếp cận tối giản, làm bằng tay với phong thái nhẹ nhàng; họ “quán triệt” và “hàm ơn” hình thái nghệ thuật giản lược đó – một trào lưu cho tới giờ vẫn thật ấn tượng khi luôn hiện diện trong vẻ “bất trị” và “lạnh lùng” của nó.
Blue, Donald Judd
Các phê bình gia hay áp dụng thuật ngữ “Tối giản” để hàm ý về “một hình thức mô tả tốc ký” gắn với các tác phẩm thường có bố cục đối xứng, kiệm màu, đơn giản hóa cao độ và tự tiết chế, không thái quá, sử dụng các vật liệu bằng nhựa hay hợp kim, gây cảm giác mạnh cho người xem. Tuy nhiên, mỗi nghệ sĩ đều có sự tinh tế riêng và những khác biệt thú vị trong cách tiếp cận về hình thức, nội dung và việc xử lý chủ đề tác phẩm. Judd, LeWitt, AndreMorris ưa sử dụng các hình khối và hình chữ nhật, trong khi Tony SmithRonald Bladen thích các hình thù chéo góc hoặc những kiểu dạng lồng vào nhau. Bladen, cũng giống như Truitt, muốn tự tay sơn lấy những mẫu gỗ dán. Ông muốn nghệ thuật điêu khắc giản lược của mình nói lên một điều gì đó, tựa như “một vở kịch về sự trải nghiệm nhỏ bé”.
Ronald Bladen, tác phẩm “The X”
Theo SOI